Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng
Đăng Nhập Đăng ký Trợ giúp Thành viên Tìm kiếm Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng

Thâm Cung Bí Sử

 
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng » Văn Hoá - Khoa Học & Kỹ Thuật
Xem chủ đề cũ hơn :: Xem chủ đề mới hơn  
Tác giả Thông điệp
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Tư 9 24, 2008 3:36 am    Tiêu đề: Thâm Cung Bí Sá»­ Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này



NHA TIỀN LÊ tồn tại trong 29 năm, trải qua 3 đời Vua.
-LÊ ĐẠI HÀNH (Lê Hoàn) (980 -1005)
-Lê TRUNG TÔNG ( 1005 )
-LÊ LONG ĐĨNH (1005- 1009 )


Triều LÝ tồn tại trong 215 năm thì tan rã. Trải qua 9 đời Vua
1) Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn )(1010- 1028) 19 năm
2) Lý Thái Tông 1028- 1054 ( 27 năm)
3) Lý Thánh Tông 1054-1072( 17 năm)
4) Lý Nhân Tông 1072- 1127 (56 năm)
5) Lý Thần Tông 1128- 1138 (10 năm )
6) Lý Anh Tông 1138- 1175 (37 năm )
7) Lý Cao Tông 1176-1210( 35 năm )
8) Lý Huệ Tông 1211- 1225( 14 năm )
9) Lý Chiêu Hoàng 1224- 1225(1 năm )


THÂM CUNG BÍ SỬ

LÝ CHIÊU HOÀNG(1225 )
Niên hiệu: Thiên Chương Hữu Đạo

Chiêu Thánh Công Chúa còn có tên là Phật Kim, sinh vào tháng 9 năm Mậu Dần (1218)

Chiêu Thánh lên ngôi năm Giáp Thân (1224 ) tức là Lý Chiêu Hoàng .Vua còn nhỏ ,nên quyền hành ở cả Trần Thủ Độ. Trần Thủ Độ đưa các cháu vào cung cấm nắm giữ các chức vụ lớn, nhỏ. Trần Bất Cập làm Cận thị thủ lục cục ;Trần Thiêm làm Chi hậu cục, Trần Cảnh làm Chánh thủ (đội trưởng đội hậu cần )

Trần Cảnh là con thứ hai của Trần Thừa, lúc đó mới 8 tuổi, cùng tuổi với Lý Chiêu Hoàng. Một lần Trần Cảnh bưng nước rửa mặt cho Vua, Chiêu Hoàng thấy Trần Cảnh nên đem lòng yêu mến. Từ đó, mỗi khi vui chơi Chiêu Hoàng đều cho gọi Trần Cảnh đến cùng chơi. Có hôm ,Trần Cảnh bưng chậu nước đứng chầu, Chiêu Thánh rửa mặt ,lấy tay té nước ướt cả mặt Cảnh. Đến khi CẢnh đem khăn chầu thì Vua lấy khăn ném cho Cảnh. Khi về nhà Cảnh nói riêng với Trần Thủ Độ. Thủ Độ nói: " Nếu thực sự như thế thì họ ta làm Vua chăng ? hay chết cả họ chăng ?

Hôm khác, Chiêu Hoàng lại lấy khăn ném cho Trần Cảnh. Cảnh quỳ lạy:
- Bệ Hạ có tha tội cho thần không ?Thần xin vâng mệnh

Chiêu Hoàng cười, :Tha cho ngươi ,nay ngươi đã biết nói khôn đó!

Cảnh lại về nói với Thủ Độ. Sợ việc tiết lộ thì sẽ bị giết cả Thủ Độ đem gia thuộc thân quyến vào trong cung cấm, sai đóng cửa thành và các cửa cung. Các quan vào chầu đều không vào được. Thủ Độ loan báo:
Bệ Hạ đã có chồng rồi.

Các quan đều nói: Đó là việc tốt, xin cho chọn ngày vào chầu.

Thế là ngày 21/10 năm Ất Dậu có chiếu của Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh và ngày 11/12 năm Ất Dậu (tháng 1/ 1225) Chiêu Hoàng thiết triều ở điện Thiên An ngự trên giường báu, các quan mặc triều phục lạy ở sân rồng. Chiêu Hoàng trút bỏ áo ngự, khuyên mời Trần Cảnh lên ngôi Vua. Sau ba lần nhún nhường làm phép, Trần Cảnh lên ngai vàng chính thức làm Hoàng Đế.Nhưng sau đó, bất hạnh lại đến với Chiêu Hoàng.( lúc nầy là Hoàng Hậu Chiêu Thánh )

Nguyên do ,lấy nhau hơn chục năm, Chiêu Thánh vẫn không sinh nở gì. Thủ Độ sợ Vua Thái Tông Trần Cảnh tuyệt tự, không người nối ngôi Vua, bèn lấy Thuận Thiên là chị ruột của Chiêu Thánh là vợ của Trần Liễu (anh ruột của Trần Cảnh )lúc nầy đang có mang ,ép gả cho Trần Cảnh.

Sau đó, Thủ Độ ép Thái Tông phải bỏ Chiêu Thánh mà lập Thuận Thiên làm Hoàng Hậu. Chiêu Thánh quá đau khổ, ẩn trong cung sâu, toan dứt nợ trần.

Nhưng may thay ,20 năm sau,khi tròn 40 tuổi. Hạnh phúc lại đến với Chiêu Hoàng. Mồng một Tết năm Mậu Ngọ (1258) sau khi đánh tan cuộc xâm lược của quân Nguyên lần thứ nhất, Vua Thánh Tông đặt đại lễ ở chánh điện, có lệnh gả Chiêu Hoàng cho Lê Phụ Trần một Đại tướng có công lớn trong cuộc kháng chiến vừa qua. Lần nầy Chiêu Hoàng tìm được hạnh phúc thật sự, Bà sinh được hai người con:

-Lê Tông sau được phong tước Thượng vị hầu.
-Ngọc Khê sau được phong là Ứng Thụy Công Chúa.

Chiêu Hoàng mất năm 60 tuổi. Tương truyền tóc Bà vẫn đen nhánh, môi vẫn đỏ như tô son, đôi má vẫn một màu hoa đào..........

(Theo các triều đại VIỆT NAM.)


Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Sáu 9 26, 2008 6:26 am    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này


HOÀNG HẬU TRẦN THỊ DUNG

Trần Thị Dung là con gái Trần Lý, em của Trần Thừa, vị Thượng Hoàng đầu tiên của triều Trần

Năm 1209, Hoàng tử SẢM chạy loạn về Hải Ấp ,thấy Trần Thị Dung có sắc đẹp bèn lấy làm vợ. Tháng 11 năm Canh Ngọ (1210 ) Hoàng tử SẢM lên ngôi lấy hiệu là Huệ Tông. Trần Thị Dung được lập làm Nguyên Phi. Đến giữa năm Bính Tý (1216 ) được sắc phong làm Hoàng Hậu.

Vốn không yêu Lý Huệ Tông, lại thấy Huệ Tông chỉ đam mê sắc dục không thiết gì đến triều chính nên Trấn Thị Dung càng chán Vua và cảm mến Trầ Thủ Độ lúc đó là Thái Sư.Tháng 12 năm Ất Dậu (1225 ) nhà Lý mất ngôi, triề Trần nắm quyền thì tháng 8 năm Bính Tuất (1226), Tân triều đã thu xếp cho mối tình giữa Thái Sư Trần Thủ Độ và Hoàng hậu triều Lý Trần Thị Dung.

Cả triều đình nhà Trần vào ngày cưới của đôi lứa ấy, hội vui được tổ chức thâu đêm suốt sáng .

Trần Thị Dung sau đó được phong làm LINH TỪ QUỐC MẪU đã có công chỉ huy giới Hoàng tộc chủ động rút khỏi kinh thành trong lần giặc Nguyên xâm lược Đại Việt lần thứ nhất(1257). Sau đó, d0ảm nhận việc lo thu nhặt sắt thép, khích lệ các hiệp thợ rèn đêm ngày rèn binh khí cung cấp cho quân Trần. Trong trận phản công chiến lược Đông Bộ Đầu tháng 12 năm Đinh Tý (1-1258 ) Đuổi giặc chạy về nước của dân tộc là có một phần công lớn của Bà.

Theo Các Triều đại VIỆT NAM


Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Sáu 9 26, 2008 6:34 am    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này


CÁC ĐỜI VUA TRẦN ( 1225- 1400)

1/ Trần Thái Tông ( 1225-1258 )
2/ Trần Thánh Tông ( 1258- 1278 )
3/ Trần Nhân Tông (1279- 1293 )
4/ Trần Anh Tông ( 1293- 1314 )
5/ Trần Minh Tông ( 1314-1329 )
6/ Trần Hiến Tông (1329 -1341 )
7/ Trần Dụ Tông (1341-1369 )
8/ Trần Nghệ Tông (1370- 1372 )
9/ Trần Duệ Tông (1372- 1377 )
10/Trần Phế Đế ( 1377- 1388 )
11/Trần Thuận Tông (1388-1398 )
12/Trần Thiếu Đế (1398-1400 )

Nhà Trần trị vì 175 năm. Qua 12 đời Vua.


AN TƯ CÔNG CHÚA.

An Tư là con gái út vua Trần Thái Tông.

Ngày nay không ai biết nàng sinh và mất năm nào ,

Sách Đại Việt Sử Ký toàn thư chỉ ghi :
"...Sai người đưa Công Chúa An Tư đến cho Thoát Hoan là có ý làm giảm bớt tai họa cho nước nhà vậy."

Ngày ấy, khoảng đầu năm Ất Dậu (1285), quân Nguyên đã đánh tới Gia Lâm vây hãm Thăng Long. Thượng hoàng Thánh Tông và vua Nhân Tông đã đi thuyền rồng nhỏ ra vùng Tam Trĩ, còn thuyền ngự thì đưa ra vùng Ngọc Sơn để đánh lạc hướng giặc. Nhưng quân Nguyên vẫn phát hiện ra, ngày 9/3 thủy quân giặc đã bao vây Tam Trĩ suýt bắt được hai Vua, Chiến sự buổi đầu bất lợi, Tướng Trần Bình Trọng lại hy sing dũng cảm ở bờ sông Thiên Mạc. Trước thế giặc mạnh, nhiều Tôn thất nhà Trần như: Trần Kiện, Trần Lộng kể cả Hoàng thân Trần Ích Tắc đã mang gia quyến chạy sang trại giặc. Tần Khắc Chung được sai đi sứ để làm chậm tốc độ tiến quân của giặc không có kết quả. Trong lúc đó, cần phải có thời gian để cũng cố lực lượng, tổ chức chiến đấu. Bởi vậy, Trần Thánh Tông bất đắc dĩ phải dùng đến kế Mỹ nhân, Vua sai đem dâng em út của mình cho Thoát Hoan, Công Chúa còn rất trẻ. Vì nước, An Tư bỏ cuộc sống êm ấm, nhung lụa trong cung cấm, vĩnh biệt bè bạn để hiếndâng tuổi trẻ, đời con gái ,kể cả tính mạng mình. An Tư vào trận chỉ có một mình, không một tấc sắc. Hiểu rõ nạn nước, cảnh mình, nàng chấp nhận gian khổ, tủi nhục, kể cả cái chết. ...

An Tư sang trại giặc không phải với tư cách đi lấy chồng mà là vật cống nạp dâng hiến, cũng là một nội gián. Do vậy, sự hy sinh ấy thật là cao cả.

Ở trại giặc, làm vợ Thoát Hoan, An Tư đã sống ra sao, làm được những gì, không ai biết. Nhưng tháng tư năm ấy, quân Trần bắt đầu phản công khiến cho quân Nguyên đại bại Thoát Hoan phải chui vào ống đồng trốn qua biên giới.

Sau chiến thắng các vua Trần làm lễ tế lăng miếu, khen thưởng công thần, truy phong các tướng lĩnh. Nhưng không ai nhắc đến An Tư. Vậy Công Chúa còn hay mất. Nàng được mang về Trung Quốc hay đã chết trong đám loạn quân .

Trong cuốn An Nam chí lược của Lê Trắc, một thuộc hạ của Trần Kiện theo chủ chạy sang nhà Nguyên, sống lưu vong ở Trung Quốc có ghi:

..."Trước, Thái tử (chỉ Thoát Hoan )lấy người con gái nhà Trần sinh được hai con."

Người con gái họ Trần nầy, Phải chăng là công chúa An Tư.
Chưa có chứng cứ rõ ràng khẳng định điều ấy.

Dù triều Trần và sử sách có quên nàng thì các thế hệ đời sau vẫn dành cho nàng sự thương cảm.

Khoảng trống Lịch sử sẽ được lấp đầy bằng tình cảm của người đời sau.....





Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Bảy 9 27, 2008 9:52 am    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

CÔNG CHÚA HUYỀN TRÂN.

Tháng 3 năm Tân Sửu (1301) Thượng Hoàng Trần Nhân Tông làm một cuộc viễn du sang kinh đô Chiêm Thành. Để tăng thêm quan hệ hòa hiếu giữa hai nước Việt - Chiêm Thành Thượng Hoàng hứa gả con gái cho Vua Chiêm.

Bởi vậy, năm Bính Ngọ (1306) sau khi nhận lễ vật gồm: hương qúi, của lạ và vàng bạc cầu hôn Vua Trần Anh Tông gả Công Chúa Huyền Trân cho Vua Chiêm là Chế Mân .

Chế Mân đem đất châu Ô, châu Lý làm vật dẫn cưới và phong Huyền Trân làm Hoàng Hậu.

Việc Công Chúa nước Việt kết hôn với Vua Chiêm, trở thành Hoàng Hậu nước Chiêm là hợp lẽ, môn đăng hộ đối, chưa kể cuộc hôn nhân ấy là cái cầu giao hảo chính trị, xóa bỏ hiềm khích, hận thù để hai dân tộc được sống bình yên. Nhưng triều Trần không nhất trí. Nhiều người nặng đầu óc kỳ thị dân tộc lên tiếng phản đối. Họ làm thơ Quốc âm chê cười Vua Trần, tiếc nàng Công Chúa sắc nước hương trời...

"Tiếc thay cây quế giữa rừng.
Để cho thằng Mán, thằng Mường nó leo.
"

Nhung cũng có nhiều người, trong đó có Trần Khắc Chung cho là việc tốt đẹp nên làm. Chỉ tội cho Huyền Trân, Nàng đâu đã biết gì về đất nước và vị Vua ấy.

Huyền Trân về Chiêm Thành thì dân hai châu Hoan, Châu Ái (Thanh hóa, Nghệ An) cũng rầm rộ kéo theo vào tiếp nhận hai châu Ô Lý.

Châu Ô đổi thành châu Thuận. Châu Lý đởi thành châu Hóa. Nhân dân thường gọi là chung là Thuận Hóa

Về Chiêm Thành được 11 tháng, Huyền Trân sinh được con trai thì Chế Mân chết. Theo tục lệ Chiêm Thành, Hoàng hậu phải lên giàn hỏa thiêu chết theo.

Vua Trần sợ Công Chúa bị hại, Sai Trần Khắc Chung là quan Nhập nội thành khiển Thượng thư tả bộc xạ và An phủ sứ Đặng Vân sang tìm cách cứu nàng về .

Tháng 10 năm Đinh Mùi (1307) hai sứ giả đến kinh đô Chiêm làm lễ vịếng, nhân đó nói rằng :

Nếu để Hoàng Hậu lên giàn thiêu ngay thì sợ trong đàn chay sẽ không có người đứng chủ. Chi bằng hãy ra bờ biển làm lễ chiêu hồn ở ven trời đón linh hồn cùng về rồi hãy vào giàn thiêu.

Người Chiêm thấy có lý, nghe theo . Nhân đó , Khắc Chung đã dùng thuyền nhẹ cướp Công Chúa rong thẳng ra biển.

Không rõ vì mang ơn cứu mạng hay là đã có tình ý từ trước, đã có lời ước hẹn từ trước mà con thuyền đưa Công Chúa từ Chiêm Thành về Đại Việt loanh quanh trên biển đến gần một năm ròng. Bất chấp mưa to gió lớn của biển khơi, búa riều dư luận và phép tắc của Triều đình, con thuyền tình của Huyền Trân và Khắc Chung vẫn lênh đênh trên biển say đắm và thơ mộng .

Tháng 8 năm Mậu Thân (1398) nghĩa là sau 10 tháng, thuyền của Huyền Trân và Khắc Chung vế đến Thăng Long. Vua Anh Tông thương em gái nên không đá động gì đến chuyện đó, cũng không một lời trách cứ Khắc Chung.

Nhưng trong Tôn thất nhà Trần không phải không có người phản đối. Đặc biệt là các nhà nho đương thời xem mối tình sử của Khắc Chung và Huyền Trân là một việc xấu, đáng chê trách

(Theo các triều đại Vn ) .


Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Bảy 9 27, 2008 10:33 pm    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

TRIỀU HỒ (1400- 1407) và nước ĐẠI NGU.

Hồ Quý Ly dòng dõi người ở Triết Giang, Trung Quốc. Từ đời Ngũ Quý sang Việt Nam sống ở Quỳnh Lưu , NGhệ An, sau chuyển ra Thanh Hóa.
Hồ quý Ly tham dự vào chính sự nhà Trần khoảng 28 năm . Sau khi bức Vua Trần dời đô từ Thăng Long vào Thanh Hóa và giết hàng loạt quần thần trung thành với nhà Trần ,tháng 2 năm Canh Thìn (1400) Quý LY truất ngôi của Trần Thiếu Đế tự lên làm Vua láy quốc hiệu là Đại Ngu. (Nguyên, họ Hồ là dòng dõi nhà Ngu bên Trung Quốc, nên Quý Ly dđặt quốc hiệu như vậy. Ngu còn có nghĩa là an vui.) Quý Ly làm vua chưa được một năm, nhường ngôi cho con thứ là Hồ Hán Thương rồi làm Thái thượng Hoàng cùng coi việc nước . Bài học lớn nhất, dẫn đến thất bại của Quý Ly là để mất lòng dân . Quý Ly đã cải cách và đoạt chính quyền bằng bạo lực tàn bạo. Trong cuộc tàn sát các tôn thất nhà Trần và những người không ăn cánh, Quý Ly đã giết một lúc 370 người, gián tiếp và trực tiếp nhiều Vua , và còn tiềp tục tàn sát trong nhiều năm sau, làm cho người quen biết nhau "chỉ nhìn nhau bằng mắt không dám nói chuyện với nhau bằng lời". Ngưới đương thời cho Quý Ly là "gian giảo ". Một triều Vua như vậy thật khó đứng vững.

Nhà Hố làm Vua từ năm Canh Thìn (1400) đến năm Đinh Hợi (1407 ) được trọn 7 năm thì sụp đổ. Nước ta lại nằm trong vòng đô hộ của nhà Minh.

Triều Hồ tồn tại trong 7 năm với 2 đời Vua:
1/ Hồ Quý Ly (1400 )
2/Hồ Hán Thương (1401-1407 )


Triều Hậu Trần (1407-1413 )
Nhà Hậu Trần tồn tại được 7 năm thì mất, trải qua 2 đời Vua.:
1/Giản Định Đế (1407-1409 )
2/ Trùng Quang Đế (1409-1413 )


KỶ THUỘC MINH (1414-1417)
Nếu tính từ năm Bính Tuất (1407) quân Minh bắt được cha con Hồ Quý Ly giải về Kim Lăng cho đến khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn hoàn toàn thắng lợi năm Mậu Thân (1428) thì nước ta bị giặc Minh chiếm đóng trong 20 năm,.Nhưng trong thực tế, ách đô hộ của nhà Minh chỉ yên ổn trong khoảng 4năm (1414-1417). Bởi vì, sau thất bại của nhà Hồ nhân dân Đại Việt qui tụ dưới ngọn cờ của các cuộc nổi dậy đều xưng đế, n6n sử gọi đó là HẬU TRẦN (1407- 1417). Nhưng sau các cuộc đánh dẹp bằng quân sự, tháng 4 năm Giáp Ngọ (1414) Tổng binh Trương Phụ, Mộc Thạnh, và Thị lang binh bộ nhà Minh là Trần Hiệp bắt được Trùng Quang Đế ,Nguyễn Sú , Đặng Dung giải về Bắc. Trên đường đi Vua tôi nhà Hậu Trần đã nhảy xuống biển tự tử. Nhà Hậu Trần chấm dứt từ đây.

Quốc thống thuộc nhà Minh. Sử gọi đó là KỶ THUỘC MINH.


PHONG TRÀO NGHĨA BINH ÁO ĐỎ.
Phong trào nầy xuất hiện ở Thái Nguyên vào năm Canh Dần (1410 )Nghĩa quân thường mặc áo đỏ và chiến đấu rất dũng cảm.

Từ Thái Nguyên phong trào lan rộng vào đến miền núi Thanh Nghệ ngày nay. Những đội nghĩabinh "Áo đỏ " đã gây cho địch nhiều thiệt hại làm cho chúng không thể đặt được chính quyền trên miền rừng núi nước ta.


KHỞI NGHĨA LAM SƠN.
Và đến đầu năm Mậu Tuất (1418 ) LÊ LỢI cùng với những người đồng chí chính thức dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn kêu gọi mọi người hưởng ứng đánh giặc cứu nước.

Các cuộc nổi dậy, tuy ngắn ngủi song cũng góp phần không nhỏ cùng với khởi nghĩa Lam Sơn chấm dứt 20 năm đô hộ của giặc Minh trên đất nước ta.


Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: CN 9 28, 2008 5:02 am    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

TRIỀU LÊ SƠ (1428- 1527)

Triều Lê kể từ Lê Thái Tổ (LÊ LỢI)lên ngôi, (1428) đến Lê Cung Hoàng (1527) gồm 10 đời Vua, cả thảy đúng 100 năm. Nếu tính cả thời gian LÊ LỢI dấy quân xưng là Bình Định Vương năm Mậu Tuất (1418) cộng là 110 năm. Đây là thời kỳ các Vua LÊ nắm được trọn quyền cai trị đất nước. Các nhà Sử học gọi đây là thời LÊ SƠ để phân biệt với thời LÊ TRUNG HƯNG về sau.

Các đời vua triều LÊ SƠ đã trải qua:
1/ Lê Thái Tổ (1428-1438 )
2/ Lê Thái Tông (1434- 1442)
3/ Lê Nhân Tông (1443- 1459 )
4/ Lê Thánh Tông (1460 - 1497)
5/ Lê Hiến Tông (1497-1504)
6/ Lê Túc Tông (1504)
7/ Lê Uy Mục (1505-1509)
8/ Lê Tương Dực (1510-1516)
9/ Lê Chiêu Tông (1516- 1522)
10/Lê Cung Hoàng (1522-1527)


Một trong những sự kiện bi thảm nhất dưới triều LÊ là cái chết đột ngột của Vua Thái Tông và kéo theo nó là vụ án oan nghiệt giáng xuống Nguyễn Trãi và gia đình Ông vào tháng 8 năm Nhâm Tuất (1442) mà người đời vẫn gọi là vụ án Lệ Chi Viên. (vụ án vườn vải)

Ngày 27/7 năm Nhâm Tuất (1442) Vua đi tuần ở miền Đông,duyệt quân ở thành Chí Linh, Nguyễn Trãi đón Vua ngự ở chùa Côn Sơn, nơi ở của Nguyễn Trãi.

Ngày 4 tháng 8 Vua về đến Lệ Chi Viên thuộc huyện Gia Định, (nay thuộc huyện Gia Lương, Bắc Ninh) Cùng đi với Vua có Nguyễn Thị Lộ, một người thiếp của Nguyễn Trãi khi ấy đã vào tuổi 40 được Vua Thái Tông yêu quý vì sắc đẹp, văn chương hay, luôn được vào hầu bên cạnh Vua. Khi về đến Lệ Chi Viên, Vua thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ, rồi băng hà, lúc nầy Vua mới 20 tuổi. Các quan bí mật đưa thi hài Vua về, ngày 6/8 mới đến kinh sư, nửa đêm vào đến cung mới phát tang.

Triều đình đã qui cho Thị Lộ tội giết Vua.

Ngày 12/8 năm đó (1442) các đại thần nhận di mệnh là: Trịnh Khả, Nguyễn Xí, Lê Thụ, cùng với Lê Liệt, Lê Bôi tôn Hoàng Tử Bang Cơ lên nối ngôi. Nguyễn Trãi và gia đình bị án tru di tam tộc.

Lê Thái Tông trị vì trong 9 năm,đặt niên hiệu hai lần Thiệu Bình: (1434-1439); Đại Bảo (1440-1442)


Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
HaiHo
HS SaoMai


Ngày tham gia: 28 9 2008
Số bài: 59

Bài gửiGửi: CN 9 28, 2008 11:56 pm    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Bạn sưu tầm những bài giá trị và hay


Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Hai 9 29, 2008 7:28 am    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

TRIỀU MẠC (1527- 1592 )

Họ Mạc từ Mạc Đăng Dung đến Mạc Mậu Hợp truyền ngôi được 5 đời thì mất . Tổng cộng được 66 năm .

Các đời Vua Mạc:

1/ Mạc Đăng Dung (1527- 1529)
2/ Mạc Đăng Doanh (1530- 1540)
3/ Mạc Phúc Hải (1541-1546)
4/ Mạc Phúc Nguyên (1546-1561)
5/ Mạc Mậu Hợp (1562-1592)

Đến năm Mậu Thìn (1688 ) những dư đảng cuối cùng của nhà Mạc mới bị triều đình LÊ-TRỊNH dẹp yên .


Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Sáu 10 10, 2008 3:41 am    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này



TRIỀU HẬU LÊ (LÊ TRUNG HƯNG).

NAM - BẮC TRIỀU. (1533-1593).

Năm năm sau, kể từ ngày bị Mạc Đăng Dung giành ngơi Vua, đến năm Quý Tỵ (1533), nhà Lê lại được dựng lên, mặc dù Vua ở đất Lào nhưng đã có niên hiệu. Các nhà chép sử, gọi đó là thời LÊ TRUNG HƯNG (Hậu Lê).

LÊ TRANG TÔNG (1533- 1543).
LÊ TRUNG TÔNG (1548- 1556).
LÊ ANH TÔNG (1556- 1573).


VUA LÊ - CHÚA TRỊNH.

LÊ THẾ TÔNG (1573- 1599)
Công cuộc Trung Hưng đã hoàn thành, lại được các quan thiên triều trọng vọng, Trịnh Tùng tự xưng làm Đô nguyên súy Tổng quốc chính thượng phụ Bình An Vương và định lệ cấp lộc cho Vua Lê chỉ được thu thuế 1000 xã, cấp cho 5000 lính làm quân túc vệ, 7 con voi và 20 chiếc thuyền rồng. Cón lại quyền hành trong nước đều do Trịnh Vương hoàn toàn quyết định, Vua chỉ ngồi chắp tay, không làm gì, chỉ giữ đại cương. Từ đây thực sự bắt đầu thời kỳ mà sử gọi là VUA LÊ - CHÚA TRỊNH.


TRỊNH - NGUYỄN PHÂN TRANH.

LÊ KÍNH TÔNG (1600- 1619)
LÊ THẦN TÔNG (1619 -1643)
LÊ CHÂN TÔNG (1643- 1649)
LÊ THẦN TÔNG (1649 -1662). Lần thứ hai làm VUA, LÊ THẦN TÔNG đặt niên hiệu 4 lần.
LÊ HUYỀN TÔNG (1663 -1671)
LÊ GIA TÔNG (1672 -1675)
LÊ HY TÔNG (1676 -1705)
LÊ DỤ TÔNG (1705 -1728)
HÔN ĐỨC CÔNG (1729 -1732)
LÊ THUẦN TÔNG (1732 -1735)
LÊ Ý TÔNG (1735-1740)
LÊ HIỂN TÔNG (1740-1786)
LÊ MẪN ĐẾ (1787 -1789)

Như vậy, nhà Lê Trung Hưng từ Lê Trang Tông đến Lê Chiêu Thống trải 18 đời Vua và 265 năm trị vì.

Nhà Hậu Lê tồn tại song song với nhà Mạc từ 1533- 1592. Và với Trịnh - Nguyễn từ 1592 - 1789. Đây là giai đoạn của nạn nội chiến NAM - BẮC triều và TRỊNH - NGUYỄN phân tranh. gây nên bao cảnh đau thương thảm khốc trong nhân gian.


TRIỀU TÂY SƠN (1778 -1802)

1/Thái đức Hoàng Đế Nguyễn Nhạc (1778 -1793)
2/Quang Trung Hoàng Đế Nguyễn Huệ (1789 -1792)
3/Cảnh Thịnh Hoàng Đế Quang Toản (1793 -1802)

Quang toản lên ngôi Vua năm Quý Sửu 1793 đến năm Nhâm Tuất 1802 thì mất, ở ngôi 10 năm, chết ở tuổi 20. Triều Tây Sơn kể từ Vua Thái Đức đến hết Cảnh Thịnh, tồn tại được 25 năm.


BẮC CUNG HOÀNG HẬU -LÊ NGỌC HÂN.

Ngày xưa các vua chúa thường có rất nhiều vợ. Không rõ Quang Trung có bao nhiêu vợ khi đã làm chủ từ Bắc Hà đến cõi Nam. Theo tài liệu để lại, có thể nói có đến 2 Hoàng Hậu của Vua: Chính cung Hoàng Hậu và Bắc cung Hoàng Hậu.

*Bà Chính cung Hoàng Hậu họ Phạm, người phủ Quy Nhơn, là chị cùng mẹ khác cha với Hình bộ Thượng thư Bùi văn Nhất và Thái sư Bùi Đắc Tuyên,. Khi Quang Trung đăng quang năm Kỷ Dậu 1789 thì bà cũng được lập chính cung Hoàng Hậu. Bà sinh được 3 con trai; 2 con gái:
Nguyễn Quang Toản là con đầu, được làm Thái Tử; con thứ là Nguyễn Quang Thùy được phong làm Khanh công lĩnh Bắc thành tiết chế Thủy bộ chư quân; con trai thứ ba là Nguyễn Quang Bàn được phong làm Tuyên công lĩnh Thanh Hoa đốc trấn tổng lý dân sự.

Đại Nam thực lục, biên niên sử của triều Nguyễn, còn chép những người con khác của Nguyễn Huệ: tháng 5 năm Tân Hợi 1801, khi kinh đô Phú Xuân thất thủ cho đến khi Nguyễn Ánh lấy được cả Bắc Hà, quân Nguyễn Ánh còn bắt được các em của Quang Toản có tên là: Quang Cương; Quang Tự; Quang Điện; Quang Thất; Quang Duy...

Song, trong số các bà vợ, người được Nguyễn Huệ yêu quý nhất là Bắc Cung Hoàng Hậu Lê Ngọc Hân. Nàng được phong làm Bắc Cung Hoàng Hậu lúc mới 18 tuổi. vào dịp Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế. Hai năm sau, đám cưới tưng bừng được cử hành tại THĂNG LONG. lúc đầu, chỉ là sự sắp đặt theo mưu đồ Chính trị của Nguyễn Hữu Chỉnh,theo lối “Mỹ Nhân Kế ". Nhưng về sau, cuộc tình của họ lại rất tốt đẹp. Trai anh hùng gặp gái thuyền quyên.. ........

Thế rồi ngày Nguyễn Huệ phải về Nam đã đến, nàng công chúa lần đầu tiên đi xa, phải từ biệt người thân hoàng gia cùng kinh thành Thăng Long, theo chồng vào Phú Xuân. Bà sinh được hai người con, một trai là: Nguyễn Văn Đức và một gái là Nguyễn Thị Ngọc.

Vua Quang Trung yêu quý Ngọc Hân không chỉ vì sắc đẹp, nết na mà trọng nàng ở tài Văn chương, nhạc họa, và cả những kiến thức về thời cuộc của quốc gia. Người dân kinh thành Thăng Long cứ mỗi mùa Xuân đến, ngắm hoa đào đỏ thắm lại nhớ đến cành đào Xuân năm Kỷ Dậu, vua Quang Trung áo bào còn vương mùi thuốc súng vội cho ngựa trạm đem cành đào Nhật Tân vào Phú Xuân tặng người vợ yêu quý báo tin chiến thắng.

Họ chỉ sống hạnh phúc được trọn 6 năm, VUA băng hà lúc tuổi còn nhiều.... hứa hẹn. Ngọc Hân đau xé lòng, khóc Chồng bằng bài “Ai Tư Vãn”
....... Buồn thay nhẽ! Sương rơi gió lọt.
Cảnh đìu hiu thánh thót châu sa.
Tưởng lời di chúc thiết tha.
Khóc nào nên tiếng, thức mà cũng mê.

Buồn thay nhẽ! Xuân về hoa nở.
Mối sầu riêng ai gỡ cho xong. ?
Quyết liều mang vẹn chữ tòng.
Trên rường nào ngại, giữ lòng nào e!

Con trứng nước thương vì đôi chút.
Chữ tình thân chưa thoát được đi.
Vậy nên nấn ná đợi khi.. ..
Hình thì tuy ở, phách thì đã theo...


Nguyễn Quang Toản lên nối ngôi, họ ngoại chuyên quyền, nội bộ triều Tây Sơn lục đục rồi mất.

Ngọc Hân và hai con phải đổi danh tánh, sống lẩn vào với dân chúng ở Quảng Nam. Không lâu sau, bị pháy hiện và bị bắt. Ngọc Hân uống thuốc độc quỵên sinh, hai con bị thắt cổ chết. Đó là năm KỶ MÙI 1799 khi đó bà mới 29 tuổi.

Nghe tin thê thảm ấy, Chiêu nghi Nguyễn Thị Huyền, mẹ đẻ ra Ngọc Hân, lúc đó sống ở quê Phù Ninh (tục gọi là làng Nành, tỉnh Bắc Ninh) liền thuê người vào Quảng Nam lấy trộm được xác con và hai cháungoại, đem về mai táng tại làng rồi cho dựng miếu thờ.



Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Ba 10 21, 2008 1:45 am    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này



DÒNG DÕI CHÚA TRỊNH (1545 -1786 )

Họ Trịnh từ Thái Vương Trịnh Kiểm truyền đến Trịnh Sâm vừa được 8 đời thì xảy ra biến loạn , đúng với lời sấm đoán về đất phát tích của Tổ tiên họ Trịnh : "Chẳng đế , chẳng bá , Quyền nghiêng thiên hạ , truyền đươc 8 đời , trong nhà dấy vạ ". Đến Án Đô Vương Trịnh Bồng thì nghiệp Chúa hết .Trước sau 11 đời trải qua 248 năm .

1/ Trịnh Kiểm (1545 -1570 )
2/Trịnh Tùng (1570 -1623 )
3/ Trịnh Tráng (1623 -1652 )
4/Trịnh Tạc (1653 -1682 )
5/Trịnh Căn (1682 -1709 )
6/Trịnh Cương (1709 -1729 )
7/Trịnh Giang (1729 -1740 )
8/Trịnh Doanh (1740 -1767 )
9/Trịnh Sâm (1767 -1782 )
10/Trịnh Tông (1782 -1786 )
11/Trịnh Bồng (1786 -1787 )



DÒNG DÕI CÁC CHÚA NGUYỄN (1600 -1802 )

1/Nguyễn Hoàng (1600- 1802 )
2/Nguyễn Phúc Nguyên (1613 -1635 )
3/Nguyễn Phúc Lan (1635 -1648 )
4/Nguyễn Phúc Tần (1648 -1687 )
5/Nguyễn Phúc Trăn (1687 -1691 )
6/Nguyễn Phúc Chu (1691 -1725 )
7/Nguyễn Phúc Chú (1725 -1738 )
8/Nguyễn Phúc Khoát (1738 -1765 )
9/Nguyễn Phúc Thuần (1765 -1777 )
10/Nguyễn Phúc Ánh (1780 -1802 )

Sau cái chết của Quang Trung , Nguyễn Ánh càng ráo riết thực thi chiến thuật " Tằm ăn lá dâu ". Năm Kỷ Mùi (1799) Nguyễn Ánh chiếm được Quy Nhơn , đổi thành Bình Định .Từ đó , Nguyễn Ánh bắt đầu giành được thế áp đảo ,khiến Nguyễn Quang Toản non yếu , nội bộ lục đục không sao chống nổi .Sau khi Nguyễn Quang Toản mất vào tháng 7 /Nhâm Tuất (1802 ) NGUYỄN ÁNH lên ngôi HOÀNG ĐẾ .



TRIỀU NGUYỄN THỜI KỲ ĐỘC LẬP. (1802 -1883 )

1/ GIA LONG HOÀNG ĐẾ (1802 -1819 )
2/MINH MỆNH HOÀNG ĐẾ (1820 -1840 )
3/THIỆU TRỊ HOÀNG ĐẾ (1841 -1847 )
4/TỰ ĐỨC HOÀNG ĐẾ (1848 -1883 )


THỜI KỲ BẮT ĐẦU THUỘC PHÁP.

1/DỤC ĐỨC (Làm Vua 3 ngày )
2/HIỆP HÒA (6/1883 -11/1883 )
3/KIẾN PHÚC (12/1883 -8/1884 )
4/HÀM NGHI (8/1884 -8/1885 )
5/ĐỒNG KHÁNH (10/1885 -12/1888 )
6/THÀNH THÁI (1/1889 -7/1907 )
7/DUY TÂN (1907 -1916 )
8/KHẢI ĐỊNH (1916 -1925 )
9/BẢO ĐẠI (1926 -1945 ) VỊ HOÀNG ĐẾ CUỐI CÙNG .


Như vậy từ thuở các Vua Hùng dựng nước , đến vị Vua cuối cùng.Nước ta trải hơn 4000 năm lịch sử với những thăng trầm của hơn 20 triều đại các Ông Hoàng , Bà Chúa.

Năm 1945 Cách Mạng Tháng Tám thành công - Vị Hoàng Đế cuối cùng thoái vị ,chấm dứt thời kỳ phong kiến tập quyền lâu dài , LỊCH SỬ VIỆT NAM lật sang trang mới - hình thành một nhà nước VIỆT NAM -ĐỘC LẬP -DÂN CHỦ.




Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng » Văn Hoá - Khoa Học & Kỹ Thuật Thời gian được tính theo giờ EST (U.S./Canada)
Trang 1 trong tổng số 1 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Powered by SaoMaiDaNang © Nho'm SaoMai DaNang
Designed for SaoMaiDanang - Nam cuoi cung cua truong SAO MAI