Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng
Đăng Nhập Đăng ký Trợ giúp Thành viên Tìm kiếm Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng

Sự tích MẪU THOẢI và tết Mồng 5 tháng 5

 
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng » Văn Hoá - Khoa Học & Kỹ Thuật
Xem chủ đề cũ hơn :: Xem chủ đề mới hơn  
Tác giả Thông điệp
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Bảy 11 01, 2008 6:30 am    Tiêu đề: Sá»± tích MẪU THOẢI và tết Mồng 5 tháng 5 Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này



Mẫu Thoải là Mẫu Thủy mà sự khác nhau là do cách gọi "kiêng" của người dân nước ta về một vị Tổ đáng kính. Mẫu Thoải chính là tên hiệu của bà Âu Cơ, vợ vua Lạc Long Quân (Nguyễn Lâm), có sự tích được ghi trong Bách Việt tộc phả cổ lục - bộ sách của họ Nguyễn - dòng trưởng ở tổng Đại La cũ (nay là địa bàn chủ yếu của hai xã Phú Lâm - Phú Lương, huyện Thanh Oai - Hà Tây), ghi chép từ rất lâu đời, đến nay còn truyền lại. Trong 940 năm, từ đầu thời Đinh (968) đến cuối thời vua Thành Thái (1907) nhà Nguyễn. Các vị tộc trưởng ở đây được phong là : Quốc Công, Quốc Phụ, Hương Quận Công - quản lý 2400 mẫu ruộng, làm chủ tế ở Nam Thiên nhất thập nhị từ - hàng năm mở lễ hội, đón Hội đồng tộc biểu và đồng bào cả nước về lễ Tổ và dự lễ hội.

Âu Cơ là con gái của Đế Lai (Nguyễn Như Lai), cháu gái Đế Nghi (Nguyễn Nghi Nhân). Đế Nghi và Đế Minh (Nguyễn Minh Khiết) là anh em sinh đôi, con của cụ Đế Thừa (hay Sở Minh Công), đóng đô ở Tiên La. Thuở còn trẻ, khi chưa được kế nghiệp Vua Cha , hai anh em thay nhau thường dẫn đầu nhiều người đi đánh cá ở hồ Mây Mù tức hồ Dâu Đàm thời Lý, hồ Tây ở Hà Nội bây giờ), cùng quen biết và đem lòng thương yêu một người con gái đẹp, con của vị chúa hồ ở vùng này, tên là Đỗ Thị Ngoan (về sau Bà được đặt hiệu là Đoan Trang, còn trong Đại Việt sử ký toàn thư thì chép là Vụ Tiên, nhưng không có sự tích).

Tuy Đức ông Nguyễn Nghi Nhân (em) quen biết trước, nhưng Đức ông Nguyễn Minh Khiết (anh) mới là người lấy được bà Đoan Trang. Sở dĩ có sự trớ trêu ấy là do hai anh em sinh đôi giống nhau như đúc, đến nổi bà Đoan Trang không phân biệt nổi hai người, lại cứ tưởng chỉ có một.

Sau đám cưới, bà Đoan Trang về quê chồng ở Tiên La (nay là làng Thanh Lãm, xã Phú Lâm), một năm sau thì sinh con trai là Nguyễn Lộc Tục (về sau là Kinh Dương Dương, sinh ra Lạc Long Quân). Ấy thế mà đôi khi bà vẫn bị nhầm lẫn khi gọi tên chồng hoặc tên em chồng. Điều này khiến cho Đức ông Nguyễn Minh Khiết tức tối, nghi ngờ bà có tư tình với em trai. Thế là Đức ông bỏ bà, đi lấy một bà khác ở làng Khương Đình (nay thuộc Thanh trì - Hà Nội).

Sau sự kiện ấy, bà Đoan Trang mang theo con vào tận động Tiên Phi (nay thuộc Hà Nam và Hòa Bình) đi tu.

Còn Đức ông Nguyễn Nghi Nhân, sau sự kiện ấy cũng rời làng, rời quê. Ngài xin với vua cha cấp cho thuyền bè, lương thực, vũ khí, công cụ, rồi cùng với nhiều binh lính và dân chúng, tìm con đường lập nghiệp ở nơi xa. Ngài ra đi, đi mãi... tới vùng hồ Động Đình (của Trung Quốc ngày nay) mới dừng lại, rồi chinh phục các bộ tộc ở đấy, lập ra nước Sở. Các hậu duệ của ngài còn kế thế đến nhiều đời sau, gọi là dòng Sở Hùng Thông, mà các sử sách của Trung Quốc cũng đã ghi lại.

Tuy Đế Nghi mất ở nước Sở, nhưng đến đời con của ngài là Đế Lai (Nguyễn Như Lai), sau khi giao quyền trị quốc cho con trưởng là Đế Ai, thì mang theo một người con gái tên là Âu Cơ, trở về thăm lại nước cũ. Âu Cơ sau đó lấy Lạc Long Quân, là hai người chắc có cùng chung một cụ Đế Thừa (Sở Minh Công) lấy nhau, chứ không phải như Ngô Sĩ Liên, do căn cứ vào Đường sử, Tống sử, đã chép trong sử ký toàn thư là chú lấy cháu.

Kinh Dương Vương có 5 con trai, trong đó một vị chẳng may lâm bệnh mất khi còn nhỏ. Bốn vị còn lại, đến tuổi trưởng thành được vua cha giao trông nom những công việc cụ thể, và do vậy, nơi ở của từng vị và gia đình, được gọi theo những cái tên khác nhau.

Nguyễn Lâm (con trai thứ 4) trông coi các công việc về sông nước (đào ao giếng, đóng thuyền, đánh cá, làm muối, diệt trừ các loài thủy quái gây hại...), nơi ở được gọi là Thủy Phủ (Trần Thế Pháp cũng chép trong Lĩnh Nam chích quái: "Lạc Long Quân ... đặt ra các thứ bậc vua tôi ... có khi trở về Thủy Phủ mà trăm họ vẫn yên vui vô sự").

Khi vua cha Kinh Dương Vương già yếu rồi qua đời, Nguyễn Lâm được nối ngôi, gọi là Lạc Long Quân, do căn cứ vào sự tích nhà vua thường dẫn các trai tráng đi diệt trừ thủy quái, đã xăm mình cho giống với thủy quái để dễ bề tiêu diệt chúng, nên được dân chúng gọi là vua Rồng (Lạc Long Quân). Còn bà Âu Cơ, vợ của Lạc Long Quân, do căn cứ vào nơi ở của hai vị, nên các đời sau mới gọi là Mẫu Thủy (hay Mẫu Thoải).

Như đã nói, bà Âu Cơ tuy có nguồn gốc phương Nam, nhưng lại được sinh trưởng ở phương Bắc, tức là cùng quê với bà mẹ chồng Hồng Đăng Ngàn (tức Mẫu Thượng ngàn), vợ của Kinh Dương Vương.

Là người sinh ra và lớn lên, ở xứ sở trồng dâu chăn tằm và dệt the, lụa, sồi, đũi (tức vùng xung quanh hồ Động Đình), nên khi về làm dâu trong nước, bà Âu Cơ cũng kế nghiệp luôn những công việc này của bà mẹ chồng, trở thành vị tổ thứ hai, sau Mẫu Thượng ngàn là vị tổ thứ nhất, của nghề trồng dâu chăn tằm và dệt the lụa sồi đũi, của nước ta. Sách Bách Việt tộc phả cổ lục còn chép: "Bà là người hiền đức, kế nghiệp mẹ chồng dạy dân nghề chăn tằm dệt vải". và "Sinh thời, bà thường chăm sóc cho các gia đình binh lính, vì thế, sau khi bà "hóa", được dân chúng tôn xưng gọi là Bà Chúa Lính". Điều ấy có nghĩa là: Sinh thời bà hay chăm sóc cho gia đình những người theo Lạc Long Quân đi diệt trừ thủy quái, nhưng chẳng may bị thương tích hoặc hy sinh.

Cũng như bà mẹ chồng, khi chăn tằm thì bà Âu Cơ cũng thường xuyên phải "ăn cơm đứng" (Tục ngữ nước ta: làm ruộng ăn cơm nằm, chăn tằm ăn cơm đứng") - tức là lúc nào cũng tất bật, chẳng được thảnh thơi ngay cả trong khi ăn. Vì thế mà sau khi bà "hóa" vào ngày mồng 5 tháng 5 âm lịch, được các đời sau lấy làm ngày Quốc lễ, cúng bằng bánh trôi, bánh chay cùng nhiều thức ăn quí giá khác, giống như đối với bà mẹ chồng (tức Mẫu Thượng ngàn) vào ngày mồng 3 tháng 3. Đó là cách tưởng nhớ của người dân nước ta, vừa thiết thực vừa thể hiện đầy đủ những giá trị nhân bản.

Lâu nay, do việc tiếp thu thiếu chọn lọc sách vở của người phương Bắc (thời trước), nên dẫn đến việc nhầm lẫn cho rằng tết mồng 5 tháng 5 của nước ta là để tưởng nhớ về Khuất Nguyên, vị trung thần của nước Sở, vì can ngăn vua Sở Hoài Vương không được, đã ôm đá gieo mình xuống sông Mịch La mà tự vẫn.

Người dân nước ta, khi được biết về sự tích của Khuất Nguyên, tuy vẫn thương tiếc và kính trọng sự trung nghĩa của ông, nhưng tết mồng 5 tháng 5 của nước ta là để tưởng nhớ về bà Âu Cơ, chứ không phải để tưởng nhớ về Khuất Nguyên của nước Sở, xảy ra sau thời bà Âu Cơ đến khoảng 2000 năm. Ngày tuẫn tiết của Khuất Nguyên chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên với ngày "hóa" của bà Âu Cơ - Mẫu Thoải mà thôi.


Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng » Văn Hoá - Khoa Học & Kỹ Thuật Thời gian được tính theo giờ EST (U.S./Canada)
Trang 1 trong tổng số 1 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Powered by SaoMaiDaNang © Nho'm SaoMai DaNang
Designed for SaoMaiDanang - Nam cuoi cung cua truong SAO MAI