Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng
Đăng Nhập Đăng ký Trợ giúp Thành viên Tìm kiếm Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng

Chinh Phụ Ngâm Khúc - Đặng Trần Côn

 
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng » Góc phố sưu tầm
Xem chủ đề cũ hơn :: Xem chủ đề mới hơn  
Tác giả Thông điệp
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Hai 11 03, 2008 7:00 pm    Tiêu đề: Chinh Phụ Ngâm Khúc - Đặng Trần Côn Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này


ĐẶNG TRẦN CÔN

Chinh Phụ Ngâm Khúc
Tác giả: Đặng Trần Côn
Diễn Nôm: Đoàn Thị Điểm





Tiểu Sử Đoàn Thị Điểm:

Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm sinh năm 1705 tại làng Giai Phạm, huyện Văn Giang, xứ Kinh Bắc (nay là tỉnh Bắc Ninh) mất năm 1748 tại tỉnh Nghệ An. Bà có tài, có sắc, thông minh từ nhỏ, học vấn uyên bác, viết nhiều tác phẩm bằng chữ Hán và chữ Nôm. Tác phẩm nổi tiếng nhất của bà là bản dịch Chinh phụ ngâm (Khúc ngâm của người vợ có chồng đi chiến trận). Khúc ngâm này nguyên tác bằng chữ Hán của nhà thơ Đặng Trần Côn (1715-1750) quán làng Nhâm Mục (làng Mọc) thuộc Kinh thành Thăng Long.

Đặng Trần Côn viết Chinh phụ ngâm để ghi nhận một hiện thực lịch sử của đất nước. Trải bao thế kỷ, dân tộc ta phải đương đầu chống giặc ngoại xâm, trai tráng trong nước phải tòng quân giết giặc, những người phụ nữ phải đảm nhiệm công việc gia đình, đồng ruộng. Và kiên trì chờ đợi ngày về của người lính chiến. Tình trạng ấy cũng diễn ra trong đời sống của tác giả và dịch giả là thời Trịnh Nguyễn phân tranh, nạn binh hỏa liên miên không dứt.

Dịch Chinh phụ ngâm từ thơ chữ Hán sang thơ tiếng Việt, Đoàn Thị Điểm không làm công việc chuyển dịch bình thường. Bà đã tạo nên một công trình văn học dịch có giá trị cao, không những sát với nguyên tác mà có phần còn vượt nguyên tác. Tâm tư và cảnh ngộ của bà giống hệt tâm tư cảnh ngộ của người vợ trong khúc ngâm. Vì vậy, tuy là dịch thơ mà bà đã 'dịch' chính đời mình ra thơ:

Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên

Đời bà vất vả thế. Ba mươi tám tuổi lấy chồng (ông tiến sĩ Nguyễn Kiều). Lấy chồng được một tháng, chồng đi sứ ba năm. Cảnh tiễn biệt:

Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp, ai rầu hơn ai?


Chồng đi vắng, vợ ở nhà vừa làm nhiệm vụ con trai nuôi mẹ vừa làm nhiệm vụ người cha dạy con:

Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam
Dạy con đèn sách, thiếp làm phụ thân
Nay một thân nuôi già dạy trẻ
Nỗi quan hoài mang mẻ xiết bao


Sau thời gian đi sứ, ông Nguyễn Kiều về. Sum họp chẳng được bao lâu, ông được lệnh vào trị nhậm ở Nghệ An. Bà đi cùng với ông. Mới vào đến Nghệ An, chẳng may bà bị bệnh, mất đột ngột, không thực hiện được câu thơ:

Liên ngâm, đối ẩm đòi phen
Cùng chàng lại kết mối duyên đến già
Cho bõ lúc sầu xa cách nhớ
Giữ gìn nhau vui thuở thanh bình


Đoàn Thị Điểm cùng với Bà Huyện Thanh Quan và Hồ Xuân Hương là ba nhà thơ nữ kiệt xuất trong văn học Việt Nam xưa, góp phần làm vẻ vang cho văn học Việt Nam nói chung và văn học nữ giới Việt Nam nói riêng. Bản dịch Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm đã phổ biến sâu rộng, được rất nhiều người yêu thích và ngâm nga truyền miệng như văn học dân gian.




Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Hai 11 03, 2008 7:55 pm    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này


*ĐẶNG TRẦN CÔN: Ông vốn quê làng Nhân Mục ( tức làng Mọc ) ở gần kinh thành Thăng Long . không rã ông sinh vào năm nào , chỉ biết là vào khoảng đời Trịnh Cương ( 1709 -1729 ) . Theo Hoàng Xuân Hãn thì ông mất vào khoảng năm 1745 , lúc ấy chưa đến 40 tuổi .

Đương thời , Đặng Trần Côn nỗi danh là người văn chương lỗi lạc , thơ phú ông rất được trau dồi , bóng bẩy. Ông sáng tác bằng chữ Hán và tác phẩm chính là : Chinh phụ ngâm khúc .

*DỊCH GIẢ CHINH PHỤ NGÂM KHÚC:
Từ trước đến giờ , nói chung - chúng ta vẫn nhận rằng - bản dịch phẩm Chinh phụ ngâm khúc mà chúng ta vẫn ngâm nga và truyền tụng là của Đoàn thị Điểm - mặc dầu ở Tạp chí Nam Phong số 106 năm 1926 , Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến đã căn cứ vào một bài thơ của Phan Huy Ích mà chứng minh rằng dịch giả bản ngâm khúc kia chính là Phan Huy Ích - chứ không phải là Đoàn thị Điểm.

Năm 1952, ông Hoàng Xuân Hãn cho xuất bản ở Pari quyển Chinh phụ ngâm bị khảo .Trong quyển sách dày hơn 300 trang này , ông Hoàng đã nghiên cứu rất công phu về bản ngâm khúc nổi tiếng của Đặng Trần Côn và các bản dịch âm của các ngâm khúc ấy , ông Hoàng khẳng định rằng - dịch phẩm Chinh phụ ngâm bản A ( tức là bản vẫn truyền tụng ) là của Phan Huy Ích . Tác giả Chinh phụ ngâm bị khảo dựa vào một tài liệu của người họ Phan là Phan Huy Chiêm là người năm 1926 đã biên thư cho Tạp chí Nam Phong nhận rằng - dịch giả bản chính Chinh phụ ngâm nói trên là Phan Huy Ích , mà đưa ra nhận định ấy .

Tài liệu để chứng minh Chinh phụ ngâm khúc bản A - quanh quẩn vẫn là tài liệu cỉa họ Phan . Mà trong số những tài liệu ấy lại không có bản nguyên văn bản dịch bằng chữ Nôm của Phan Huy Ích .Bản Chinh phụ ngâm mà Phan Huy Chiêm đưa cho ông Hoàng chỉ là bản dịch Chinh phụ ngâm khúc chữ La tinh (chữ Quốc ngữ mà thôi)

Như vậy là cho đến nay , vẫn chưa có bằng cớ nào chắc chắn khả dĩ chứng thực rằng - dịch phẩm bản khúc ngâm nổi tiếng kia không phải là của Đoàn thị Điểm .Nhận định của ông Hoàng Xuân Hãn cần phải xét lại .
Vì thế ở đây , chúng tôi vẫn coi Đoàn thị Điểm là dịch giả cái khúc ngâm réo rắt kia như từ trước đến giờ hầu hết chúng ta vẫn đã thừa nhận .

( Lược trích Lịch sử Văn học VN của Văn Tân Nguyễn Hồng Phong , Nguyễn Đổng Chi .Tư liệu học tập của SV / ĐHSP .)




Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Hai 11 03, 2008 8:42 pm    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này



Chinh Phụ Ngâm Khúc

của Ðoàn Thị Ðiểm (1705-1748)
nguyên tác của Ðặng Trần Côn (1715?-1745)

001 -- Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
002 -- Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
003 -- Xanh kia thăm thẳm tầng trên
004 -- Vì ai gây dựng cho nên nỗi này
005 -- Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt
006 -- Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây
007 -- Chín tầng gươm báu trao tay
008 -- Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh
009 -- Nước thanh bình ba trăm năm cũ
010 -- Áo nhung trao quan vũ từ đây
011 -- Sứ trời sớm giục đường mây
012 -- Phép công là trọng, niềm tây sá nào
013 -- Ðường giong ruổi lưng đeo cung tiễn
014 -- Buổi tiễn đưa lòng bận thê noa
015 -- Bóng cờ tiếng trống xa xa
016 -- Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa phòng
017 -- Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt
018 -- Xếp bút nghiên theo việc đao cung
019 -- Thành liền mong tiến bệ rồng
020 -- Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời
021 -- Chí làm trai dặm nghìn da ngựa
022 -- Gieo Thái Sơn như tựa hồng mao
023 -- Giã nhà đeo bức chiến bào
024 -- Thét roi cầu Vị, ào ào gió thu
025 -- Ngòi đầu cầu nước trong như lọc
026 -- Ðường bên cầu cỏ mọc còn non
027 -- Ðưa chàng lòng dặc dặc buồn
028 -- Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền
029 -- Nước trong chảy lòng phiền chẳng rửa
030 -- Cỏ xanh thơm dạ nhớ khó quên
031 -- Nhủ rồi tay lại trao liền
032 -- Bước đi một bước lại vin áo chàng
033 -- Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi
034 -- Dạ chàng xa ngoài cõi Thiên San
035 -- Múa gươm rượu tiễn chưa tàn
036 -- Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo
037 -- Săn Lâu Lan, rằng theo Giới Tử
038 -- Tới Man Khê, bàn sự Phục Ba
039 -- Áo chàng đỏ tựa ráng pha
040 -- Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in
041 -- Tiếng nhạc ngựa lần chen tiếng trống
042 -- Giáp mặt rồi phút bỗng chia tay
043 -- Hà Lương chia rẽ đường này
044 -- Bên đường, trông bóng cờ bay ngùi ngùi
045 -- Quân trước đã gần ngoài doanh Liễu
046 -- Kỵ sau còn khuất nẻo Tràng Dương
047 -- Quân đưa chàng ruổi lên đường
048 -- Liễu dương biết thiếp đoạn trường này chăng?
049 -- Tiếng địch trổi nghe chừng đồng vọng
050 -- Hàng cờ bay trong bóng phất phơ
051 -- Dấu chàng theo lớp mây đưa
052 -- Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà
053 -- Chàng thì đi cõi xa mưa gió
054 -- Thiếp lại về buồng cũ gối chăn
055 -- Ðoái trông theo đã cách ngăn
056 -- Tuôn màu mây biếc, trải ngần núi xanh
057 -- Chốn Hàm Dương chàng còn ngảnh lại
058 -- Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang
059 -- Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương
060 -- Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng
061 -- Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
062 -- Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
063 -- Ngàn dâu xanh ngắt một màu
064 -- Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?
065 -- Chàng từ đi vào nơi gió cát
066 -- Ðêm trăng này nghỉ mát phương nao?
067 -- Xưa nay chiến địa dường bao
068 -- Nội không muôn dặm xiết bao dãi dầu
069 -- Hơi gió lạnh, người rầu mặt dạn
070 -- Dòng nước sâu, ngựa nản chân bon
071 -- Ôm yên, gối trống đã chồn
072 -- Nằm vùng cát trắng, ngủ cồn rêu xanh
073 -- Nay Hán xuống Bạch Thành đóng lại
074 -- Mai Hồ vào Thanh Hải dòm qua
075 -- Hình khe, thế núi gần xa
076 -- Dứt thôi lại nối, thấp đà lại cao
077 -- Sương đầu núi buổi chiều như giội
078 -- Nước lòng khe nẻo suối còn sâu
079 -- Não người áo giáp bấy lâu
080 -- Lòng quê qua đó mặt sầu chẳng khuây
081 -- Trên trướng gấm thấu hay chăng nhẽ
082 -- Mặt chinh phu ai vẽ cho nên?
083 -- Tưởng chàng giong ruổi mấy niên
084 -- Chẳn nơi Hãn Hải thì miền Tiêu Quan
085 -- Ðã trắc trở đòi ngàn xà hổ
086 -- Lại lạnh lùng những chỗ sương phong
087 -- Lên cao trông thức mây lồng
088 -- Lòng nào là chẳng động lòng bi thương!
089 -- Chàng từ sang Ðông Nam khơi nẻo
090 -- Biết nay chàng tiến thảo nơi đâu?
091 -- Những người chinh chiến bấy lâu
092 -- Như xem tính mệnh như màu cỏ cây
093 -- Nức hơi mạnh, ơn dày từ trước
094 -- Trải chốn nghèo, tuổi được bao nhiêu?
095 -- Non Kỳ quạnh quẽ trăng treo
096 -- Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò
097 -- Hồn tử sĩ gió ù ù thổi
098 -- Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi
099 -- Chinh phu tử sĩ mấy người
100 -- Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn?
101 -- Dấu binh lửa, nước non như cũ
102 -- Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương
103 -- Phận trai già cõi chiến trường
104 -- Chàng Siêu mái tóc điểm sương mới về
105 -- Tưởng chàng trải nhiều bề nắng nỏ
106 -- Ba thước gươm, một cỗ nhung yên
107 -- Xông pha gió bãi trăng ngàn
108 -- Tên reo đầu ngựa, giáo lan mặt thành
109 -- Áng công danh trăm đường rộn rã
110 -- Những nhọc nhằn nào đã nghỉ ngơi
111 -- Nỗi lòng biết ngỏ cùng ai
112 -- Thiếp trong cánh cửa, chàng ngoài chân mây
113 -- Trong cửa này đã đành phận thiếp
114 -- Ngoài mây kia há kiếp chàng vay?
115 -- Những mong cá nước sum vầy
116 -- Nào ngờ đôi ngả nước mây cách vời
117 -- Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụ
118 -- Chàng há từng học lũ vương tôn
119 -- Cớ sao cách trở nước non
120 -- Khiến người thôi sớm thôi hôm những sầu
121 -- Khách phong lưu đương chừng niên thiếu
122 -- Sánh nhau cùng dan díu chữ duyên
123 -- Nỡ nào đôi lứa thiếu niên
124 -- Quan sơn để cách, hàn huyên bao đành
125 -- Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu
126 -- Hỏi ngày về, ước nẻo quyên ca
127 -- Nay quyên đã giục, oanh già
128 -- Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo
129 -- Thuở đăng đồ, mai chưa dạn gió
130 -- Hỏi ngày về, chỉ độ đào bông
131 -- Nay đào đã quyến gió Ðông
132 -- Phù dung lại đã bên sông bơ sờ
133 -- Hẹn cùng ta: Lũng Tây nham ấy
134 -- Sớm đã trông, nào thấy hơi tăm?
135 -- Ngập ngừng, lá rụng cành trâm
136 -- Buổi hôm nghe dậy tiếng cầm xôn xao
137 -- Hẹn nơi nao, Hán Dương cầu nọ
138 -- Chiều lại tìm, nào thấy tiêu hao?
139 -- Ngập ngừng gió thổi chéo bào
140 -- Bãi hôm tuôn dẫy nước trào mênh mông
141 -- Tin thường lại, người không thấy lại
142 -- Gốc hoa tàn đã trải rêu xanh
143 -- Rêu xanh mấy lớp chung quanh
144 -- Sân đi một bước, trăm tình ngẩn ngơ
145 -- Thư thường tới, người không thấy tới
146 -- Bức rèm thưa lần dãi bóng dương
147 -- Bóng dương mấy buổi xuyên ngang
148 -- Lời sao mười hẹn, chín thường đơn sai
149 -- Thử tính lại diễn khơi ngày ấy
150 -- Tiền sen này đã nẩy là ba
151 -- Xót người lần lữa ải xa
152 -- Xót người nương chốn Hoàng Hoa dặm dài
153 -- Tình gia thất nào ai chẳng có
154 -- Kìa lão thân, khuê phụ nhớ thương
155 -- Mư già phơ phất mái sương
156 -- Con thơ măng sữa, vả đương phù trì
157 -- Lòng lão thân buồn khi tựa cửa
158 -- Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm
159 -- Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam
160 -- Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân
161 -- Nay một thân nuôi già dạy trẻ
162 -- Nỗi quan hoài mang mể biết bao!
163 -- Nhớ chàng trải mấy sương sao
164 -- Xuân từng đổi mới, Ðông nào còn dư
165 -- Kể năm đã ba tư cách diễn
166 -- Mối sầu thêm nghìn vạn ngổn ngang
167 -- Ước gì gần gũi tấc gang
168 -- Giãi niềm cay đắng để chàng tỏ hay
169 -- Thoa cung Hán thuở ngày xuất giá
170 -- Gương lầu Tần dấu đã soi chung
171 -- Cậy ai mà gửi tới cùng?
172 -- Ðể chàng thấu hết tấm lòng tương tư
173 -- Nhẫn đeo tay mọi khi ngắm nghía
174 -- Ngọc cài đầu thuở bé vui tươi
175 -- Cậy ai mà gửi tới nơi
176 -- Ðể chàng trân trọng dấu người tương thân?
177 -- Trải mấy thu, tin đi tin lại
178 -- Tới xuân này tin hãy vắng không
179 -- Thấy nhàn, luống tưởng thư phong
180 -- Nghe hơi sương, sắm áo bông sẵn sàng
181 -- Gió tây nổi không đường hồng tiện
182 -- Xót cõi ngoài tuyết quyến mưa sa
183 -- Màn mưa trướng tuyết xông pha
184 -- Nghĩ thêm lạnh lẽo kẻ ra cõi ngoài
185 -- Ðề chữ gấm, phong thôi lại mở
186 -- Gieo bói tiền tin dở còn ngờ
187 -- Trời hôm tựa bóng ngẩn ngơ
188 -- Trăng khuya nương gối bơ phờ tóc mai
189 -- Há như ai, hồn say bóng lẫn
190 -- Bỗng thơ thơ thẩn thẩn hư không
191 -- Trâm cài, xiêm giắt thẹn thùng
192 -- Lệch làn tóc rối, lỏng vòng lưng eo
193 -- Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
194 -- Bức rèm thưa rủ thác đòi phen
195 -- Ngoài rèm thước chẳng mách tin
196 -- Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?
197 -- Ðèn có biết, dường bằng chẳng biết
198 -- Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi
199 -- Buồn rầu nói chẳng nên lời
200 -- Hoa đèn kia với bóng người khá thương!
201 -- Gà eo óc gáy sương năm trống
202 -- Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên
203 -- Khắc giờ đằng đẵng như niên
204 -- Mối sầu dằng dặc tựa miền bể xa
205 -- Hương gượng đốt, hồn đà mê mải
206 -- Gương gượng soi, lệ lại chứa chan
207 -- Sắt cầm gượng gảy ngón đàn
208 -- Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng
209 -- Lòng này gửi gió đông có tiện
210 -- Nghìn vàng xin gửi đến non Yên
211 -- Non Yên dù chẳng tới miền
212 -- Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời
213 -- Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu
214 -- Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong
215 -- Cảnh buồn người thiết tha lòng
216 -- Cành cây sương đượm, tiếng trùng mưa phun
217 -- Sương như búa bổ mòn gốc liễu
218 -- Tuyết dường cưa xẻ héo cành ngô
219 -- Giọt sương phủ bụi chim gù
220 -- Sâu tường kêu vẳng, chuông chùa nện khơi
221 -- Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc
222 -- Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên
223 -- Lá màn lay ngọn gió xuyên
224 -- Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm
225 -- Hoa giãi nguyệt, nguyệt in một tấm
226 -- Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông
227 -- Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng
228 -- Trước hoa, dưới nguyệt, trong lòng xiết đau
229 -- Ðâu xiết kể, muôn sầu nghìn não
230 -- Từ nữ công, phụ xảo đều nguôi
231 -- Biếng cầm kim, biếng đưa thoi
232 -- Oanh đôi thẹn dệt, bướm đôi ngại thùa
233 -- Mặt biếng tô, miệng càng biếng nói
234 -- Sớm lại chiều, dòi dõi nương song
235 -- Nương song luống ngẩn ngơ lòng
236 -- Vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai?
237 -- Biếng trang điểm, lòng người sầu tủi
238 -- Xót nỗi chàng, ngoài cõi trùng quan
239 -- Khác gì ả Chức, chị Hằng
240 -- Bến Ngân sùi sụt, cung trăng chốc mòng
241 -- Sầu ôm nặng, hãy chồng làm gối
242 -- Buồn chứa đầy, hãy thổi làm cơm
243 -- Mượn hoa, mượn rượu giải buồn
244 -- Sầu làm rượu nhạt, muộn làm hoa ôi
245 -- Gõ sanh ngọc mấy hồi không tiếng
246 -- Ôm đàn tranh mấy phím rời tay
247 -- Xót người hành dịch bấy nay
248 -- Dặm xa mong mỏi hết đầy lại vơi
249 -- Ca quyên ghẹo, làm rơi nước mắt
250 -- Trống tiều khua, như đốt buồng gan
251 -- Võ vàng đổi khác dung nhan
252 -- Khuê ly mới biết tân toan dường này
253 -- Nếm chua cay tấm lòng mới tỏ
254 -- Chua cay này, há có vì ai?
255 -- Vì chàng lệ thiếp nhỏ đôi
256 -- Vì chàng thân thiếp lẻ loi một bề
257 -- Thân thiếp chẳng gần kề dưới trướng
258 -- Lệ thiếp nào chút vướng bên khăn
259 -- Duy còn hồn mộng được gần
260 -- Ðêm đêm thường đến Giang Tân tìm người
261 -- Tìm chàng thuở Dương Ðài lối cũ
262 -- Gặp chàng nơi Tương Phố bến xưa
263 -- Sum vầy mấy lúc tình cờ
264 -- Chẳng qua trên gối một giờ mộng Xuân
265 -- Giận thiếp thân lại không bằng mộng
266 -- Ðược gần chàng bến Lũng, thành Quan
267 -- Khi mơ những tiếc khi tàn
268 -- Tình trong giấc mộng, muôn vàn cũng không!
269 -- Duy có một tấm lòng chẳng dứt
270 -- Vốn theo chàng giờ khắc nào nguôi
271 -- Lòng theo song chửa thấy người
272 -- Lên cao mấy lúc trông vời bánh xe
273 -- Trông bến Nam, bãi che mặt nước
274 -- Cỏ biếc um, dâu mướt ngàn xanh
275 -- Nhà thôn mấy xóm chông chênh
276 -- Một đàn cò đậu trước ghềnh chiều hôm
277 -- Trông đường Bắc, đôi chòm quán khách
278 -- Rườm rà xanh cây ngất núi non
279 -- Lúa thành thoi thóp bên cồn
280 -- Nghe thôi địch ngọc véo von bên lầu
281 -- Non Ðông thấy lá hầu chất đống
282 -- Trĩ xập xoè, mai cũng bẻ bai
283 -- Khói mù nghi ngút ngàn khơi
284 -- Con chim bạt gió lạc loài kêu thương
285 -- Lũng Tây thấy nước dường uốn khúc
286 -- Nhạn liệng không, sóng giục thuyền câu
287 -- Ngàn thông chen chúc khóm lau
288 -- Cách ghềnh thấp thoáng người đâu đi về
289 -- Trông bốn bề chân trời mặt đất
290 -- Lên xuống lầu thấm thoát đòi phen
291 -- Lớp mây ngừng mắt ngại nhìn
292 -- Biết đâu chinh chiến là miền Ngọc Quan?
293 -- Gậy rút đất dễ khôn học chước
294 -- Khăn gieo cầu nào được thấy tiên
295 -- Lòng này hóa đá cũng nên
296 -- E không lệ ngọc mà lên trông lầu
297 -- Lúc ngảnh lại ngắm màu dương liễu
298 -- Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong
299 -- Chẳng hay muôn dặm ruổi giong
300 -- Lòng chàng có cũng như lòng thiếp chăng?
301 -- Lòng chàng ví cũng bằng như thế
302 -- Lòng thiếp đâu dám nghĩ gần xa
303 -- Hướng dương lòng thiếp như hoa
304 -- Lòng chàng lẩn thẩn e tà bóng dương
305 -- Bóng dương để hoa vàng chẳng đoái
306 -- Hoa để vàng bởi tại bóng dương
307 -- Hoa vàng hoa rụng quanh tường
308 -- Trải xem hoa rụng đêm sương mấy lần
309 -- Chồi lan nọ trước sân đã hái
310 -- Ngọn tần kia bên bãi đưa hương
311 -- Sửa xiêm dạo bước tiền đường
312 -- Ngửa trông xem vẻ thiên chương thẫn thờ
313 -- Bóng Ngân Hà khi mờ khi tỏ
314 -- Ðộ Khuê Triền buổi có buổi không
315 -- Thức mây đòi lúc nhạt hồng
316 -- Chuôi sao Bắc Ðẩu thôi Ðông lại Ðoài
317 -- Mặt trăng tỏ thường soi bên gối
318 -- Bừng mắt trông sương gội cành khô
319 -- Lạnh lùng thay, bấy nhiêu Thu
320 -- Gió may hiu hắt trên đầu tường vôi
321 -- Một năm một nhạt mùi son phấn
322 -- Trượng phu còn thơ thẩn miền khơi
323 -- Xưa sao hình ảnh chẳng rời
324 -- Bây giờ nỡ để cách vời Sâm Thương
325 -- Chàng ruổi ngựa dặm trường mây phủ
326 -- Thiếp dạo hài lầu cũ rêu in
327 -- Gió Xuân ngày một vắng tin
328 -- Khá thương lỡ hết mấy phen lương thì
329 -- Xảy nhớ khi cành Diêu đóa Ngụy
330 -- Trước gió xuân vàng tía sánh nhau
331 -- Nọ thì ả Chức chàng Ngâu
332 -- Tới trăng thu lại bắc cầu sang sông
333 -- Thương một kẻ phòng không luống giữ
334 -- Thời tiết lành lầm lỡ đòi nau
335 -- Thoi đưa ngày tháng ruổi mau
336 -- Người đời thấm thoắt qua màu xuân xanh
337 -- Xuân thu để giận quanh ở dạ
338 -- Hợp ly đành buồn quá khi vui
339 -- Oán sầu nhiều nỗi tơi bời
340 -- Vóc bồ liễu dễ ép nài chiều xuân
341 -- Kìa Văn Quân mỹ miều thuở trước
342 -- E đến khi đầu bạc mà thương
343 -- Mặt hoa nọ gã Phan Lang
344 -- Sợ khi mái tóc điểm sương cũng ngừng
345 -- Nghĩ nhan sắc đương chừng hoa nở
346 -- Tiếc quang âm lần lữa gieo qua
347 -- Nghĩ mệnh bạc, tiếc niên hoa
348 -- Gái tơ mấy chốc xảy ra nạ giòng
349 -- Gác nguyệt nọ mơ màng vẻ mặt
350 -- Lầu hoa kia phảng phất mùi hương
351 -- Trách trời sao để nhỡ nhàng
352 -- Thiếp rầu thiếp lại rầu chàng chẳng quên
353 -- Chàng chẳng thấy chim uyên ở nội
354 -- Cũng dập dìu, chẳng vội phân trương
355 -- Chẳng xem chim yến trên rường
356 -- Bạc đầu không nỡ đôi đường rẽ nhau
357 -- Kìa loài sâu đôi đầu cùng cánh
358 -- Nọ loài chim chắp cánh cùng bay
359 -- Liễu, sen là thức cỏ cây
360 -- Ðôi hoa cũng dính, đôi dây cũng liền
361 -- Ấy loài vật tình duyên còn thế
362 -- Sao kiếp người nỡ để đấy đây?
363 -- Thiếp xin về kiếp sau này
364 -- Như chim liền cánh, như cây liền cành
365 -- Ðành muôn kiếp chữ tình đã vậy
366 -- Theo kiếp này hơn thấy kiếp sau
367 -- Thiếp xin: “Chàng chớ bạc đầu
368 -- Thiếp thì giữ mãi lấy màu trẻ trung”
369 -- Xin: “làm bóng theo cùng chàng vậy,
370 -- “Chàng đi đâu cũng thấy thiếp bên
371 -- “Chàng nương vầng nhật, thiếp nguyền
372 -- “Mọi bề trung hiều, thiếp xin vẹn tròn”
373 -- Lòng hứa quốc tựa son ngăn ngắt
374 -- Sức tý dân dường sắt trơ trơ
375 -- Máu Thuyền Vu, quắc Nhục Chi
376 -- Ấy thì bữa uống, ấy thì bữa ăn
377 -- Mũi đòng vác đòi lần hăm hở
378 -- Ðã lòng trời gìn giữ người trung
379 -- Hộ chàng trăm trận nên công
380 -- Buông tên ải Bắc, treo cung non Ðoài
381 -- Bóng kỳ xí giã ngoài quan ải
382 -- Tiếng khải ca trở lại Thần Kinh
383 -- Ðỉnh non kia, đá đề danh
384 -- Triều thiên vào trước cung đình dâng công
385 -- Nước Ngân Hán vác đòng rửa sạch
386 -- Khúc nhạc từ réo rắt lừng khen
387 -- Tài so Tần, Hoắc vẹn tuyền
388 -- Tên ghi gác Khói, tượng truyền đài Lân
389 -- Nền huân tướng nên công rạng vẻ
390 -- Chữ đồng hưu bia thẻ nghìn đông
391 -- Ơn trên: tử ấm thê phong
392 -- Phần vinh thiếp cũng đượm chung hương trời
393 -- Thiếp chẳng dại như người Tô Phụ
394 -- Chàng hẳn không như lũ Lạc Dương
395 -- Khi về đeo quả ấn vàng
396 -- Trên khung cửi dám rẫy ruồng làm cao
397 -- Xin vì chàng xếp bào cởi giáp
398 -- Xin vì chàng giũ lớp phong sương
399 -- Vì chàng tay chuốc chén vàng
400 -- Vì chàng điểm phấn đeo hương não nùng
401 -- Mở khăn lệ, chàng trông từng tấm
402 -- Ðọc thơ sầu, chàng thẩm từng câu
403 -- Câu vui đổi với câu sầu
404 -- Rượu khà cùng kể trước sau mọi lời
405 -- Sẽ rót vơi lần lần từng chén
406 -- Sẽ ca dần ren rén từng thiên
407 -- Liên ngâm đối ẩm đòi phen
408 -- Cùng chàng lại kết mối duyên đến già
409 -- Cho bõ lúc xa sầu, cách nhớ
410 -- Giữ gìn nhau vui thuở thanh bình
411 -- Ngâm nga mong gửi chữ tình
412 -- “Dường này âu hẳn tài lành trượng phu!”.




Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: CN 11 30, 2008 1:37 pm    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này



Chinh Phụ Ngâm Khúc

Nguyên Tác: Đặng Trần Côn

Diễn Nôm: Đoàn Thị Điểm
Chú Giải: Nguyễn Huy





Nghe Hồng Vân ngâm:



Xin nhấn vào đây để thưởng thức: Chinh Phụ Ngâm Khúc - Phần 1


Xin nhấn vào đây để thưởng thức: Chinh Phụ Ngâm Khúc - Phần 2


Xin nhấn vào đây để thưởng thức: Chinh Phụ Ngâm Khúc - Phần 3


Xin nhấn vào đây để thưởng thức: Chinh Phụ Ngâm Khúc - Phần 4


Xin nhấn vào đây để thưởng thức: Chinh Phụ Ngâm Khúc - Phần 5




Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Hai 12 08, 2008 3:48 am    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này



Tiểu Sử
Nữ Sĩ Đoàn Thị Điểm



Bà Đoàn Thị Điểm nguyên họ Đoàn, lấy chồng họ Nguyễn, lại theo họ chồng thường gọi là Nguyễn Thị Điểm, người làng Hiếu Phạm, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh. Bà là em gái ông Giám Sinh (tiến sĩ) Đoàn Luân, biệt hiệu là Hồng Hà Nữ Sĩ, sinh đầu thế kỷ XVIII đời Lê. Tư chất bà rất thông minh, từ năm lên sáu tuổi đã học đến Sử Ký.

Một hôm, ông Luân lấy chữ Sử Ký Hán Cao Tổ ra cho bà một câu nguyên văn:

"Bạch xà đương đạo, Quí bạt kiếm nhi trảm chi"
(Con rắn trắng đón đường, ông Quí rút gươm mà chém đấy).

Bà liền lấy một câu nguyên văn ở Sử Ký, điển ông Vũ đời Thuấn mà đối rằng:

"Hoàng Long phụ châu, Vũ ngưỡng thiên nhi thán viết"
(Con rồng vàng đội chiếc thuyền, ông Vũ trông trời mà than rằng).

Đối như vậy mỗi chữ xứng nhau, lại dùng cả chữ ở nguyên văn Sử Ký.

Lại một hôm, bà soi gương, ông Luân ra câu đối rằng:

"Đối kỉnh họa my, nhất điểm phiên thành lưỡng điểm"
(Soi gương vẽ mày, một chấm hóa ra hai chấm).

Câu này có chữ Điểm nghĩa là chấm, lại là tên của bà.

Bà đối ngay lại rằng:

"Lâm trì ngoạn nguyệt, chích luân chuyển tác song luân"
(Đến ao xem trăng, một vành hiện ra hai vành).

Chữ Luân là vành lại là tên ông Luân. Đối có tài và lanh, thật đáng gọi là Tiên Phận Thiên Tài khá cao vậy.

Khi có sứ Tàu sang, bà giả làm người bán quán rượu. Sứ Tàu vào uống rượu thấy bà đang biên sổ, lại thấy ở cột quán rượu có lắm câu đối hay, và bên ghế bà ngồi có nhiều sách vở, mới ra cho bà một câu đối rằng:

"An Nam nhất thốn thổ, bất tri kỷ nhân canh"
(An Nam một tấc đất, chẳng biết mấy người cày) - có ý xấc ngạo và ghẹo chọc.

Bà đối ngay rằng:

"Bắc quốc chư đại phu, giai nho thử đồ xuất"
(Nước Bắc (Tàu) các vị đại phu thảy do đường ấy mà ra cả).

Bà cũng đáp lời phúng thích lại chẳng chịu kém ý lời ra đối. Các sứ giả chịu tài và cũng lấy làm thẹn.

Bà có tài học cao siêu nên phải ở nơi địa vị kén chồng, muốn kén cả người có đủ tài ba và môn hộ tương đương, nên đã lâu không có người vừa ý. Sau bà đã ba mươi tuổi, mới kết duyên làm thứ nhất ông Nguyễn Kiều, làm quan Thượng Thư, hiệu là Hạo Hiên, cùng nhau ở chốn khuê phòng yêu kính đáng gọi là "Tương Kính Như Tân".

Khi ông mất, học trò ông theo học với bà. Bà mở trường dạy học, mãi đến bảy mươi tuổi mới từ trần.

Bà có soạn tập "Tục Truyền Kỳ" và diễn Nôm bài "Chinh Phụ Ngâm" này






Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng » Góc phố sưu tầm Thời gian được tính theo giờ EST (U.S./Canada)
Trang 1 trong tổng số 1 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Powered by SaoMaiDaNang © Nho'm SaoMai DaNang
Designed for SaoMaiDanang - Nam cuoi cung cua truong SAO MAI