Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng
Đăng Nhập Đăng ký Trợ giúp Thành viên Tìm kiếm Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng

NGUYỄN DU VỚI KINH THÀNH THĂNG LONG .

 
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng » Góc phố sưu tầm
Xem chủ đề cũ hơn :: Xem chủ đề mới hơn  
Tác giả Thông điệp
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Hai 2 22, 2010 9:45 am    Tiêu đề: NGUYỄN DU VỚI KINH THÀNH THÄ‚NG LONG . Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Nguyễn Du với kinh thành Thăng Long .

Nếu không có quãng thời gian sống ở Thăng Long, sống và thấm nhiễm bầu khí văn hóa đất đế đô, sẽ không thể có một Nguyễn Du tài hoa và tinh tế như chúng ta từng biết qua thơ chữ Hán, qua văn Nôm. Đến lượt mình, Nguyễn Du cũng đã trả nghĩa cho Thăng Long, tất nhiên, theo cách của ông.

Cuộc tại thế không lấy gì làm dài lắm của thi hào Nguyễn Du (1766 – 1820) cũng đã kịp cho phép ông đặt chân đến và sinh sống trên nhiều vùng miền của đất nước, thậm chí sang cả nước ngoài. Hầu như bất cứ mảnh đất nào cũng để lại dấu tích trong thơ ông, ngay lập tức. Thế nhưng, kinh thành Thăng Long, nơi ông sinh ra và sống những năm tháng hoa niên, rất lạ là không để lại dấu tích trong thơ Nguyễn Du theo kiểu như vậy: cho đến nay vẫn chưa tìm được bằng chứng để nói rằng Nguyễn Du có viết về Thăng Long trước năm 1786. Chuyện chỉ diễn ra sau đó gần 30 năm: năm 1813, Nguyễn Du được thăng Cần Chánh điện đại học sĩ và được cử làm Chánh sứ sang nhà Thanh. Lúc này Thăng Long trở thành một chặng trên sứ trình của ông, và chỉ đến lúc này Thăng Long mới in dấu trong thơ ông bằng bốn bài mở đầu tập Bắc hành tạp lục. Một sự đến muộn, có thể nói vậy, và vì đến muộn mà kinh thành Thăng Long với Nguyễn Du là một kinh thành Thăng Long dồn ứ hoài vọng quá khứ lẫn cảm quan hiện tại.

Theo sách Thơ chữ Hán Nguyễn Du (NXB Văn Học, 1978), bốn bài mở đầu tập Bắc hành tạp lục lần lượt là: Long thành cầm giả ca (Bài ca người gẩy đàn đất Thăng Long, hai bài Thăng Long, và Ngộ gia đệ cựu ca cơ (Gặp người hát cũ của em).

Hãy thử đọc lại bài Ngộ gia đệ cựu ca cơ:

Con người buổi loạn khác xưa
Hạc tiên trở lại bây giờ ai hay
Áo hồng giọng hát những ngày
Bạc đầu gặp lại chốn này lênh đênh
Chậu nghiêng nước đổ thôi đành
Ngó sen tuy đứt tơ mành còn vương
Lấy chồng nghe đã ba con
Áo xưa ngán nỗi vẫn còn mặc đây


(Phạm Khắc Khoan và Ngô Ngọc Can dịch).

Trong cái nhìn của Nguyễn Du, sự khác biệt giữa xưa và nay ở người con hát mà ông từng quen biết đã bật lên qua hai sắc màu: màu hồng của ống tay áo (hồng tụ tằng văn ca uyển chuyển) và màu trắng của mái đầu (bạch đầu tương kiến khốc lưu ly). Đó cũng là sự khác biệt giữa tuổi trẻ và tuổi già, giữa cường tráng và lão suy. Tàn tạ theo thời gian, xét cho cùng, cũng là lẽ thường. Nhưng thời gian của sự tàn tạ, như nhà thơ đã xác định trong câu đầu bài thơ, là thời loạn. Vì thế sự tàn tạ không còn là sự tàn tạ tự nhiên nữa: nó là con người bị vò nhàu bởi hoàn cảnh. Câu cuối, hình ảnh người con hát đã “ba con”, mặc “chiếc áo ngày trước” (khứ thời y) nhuốm một niềm chua chát và thương cảm: cái áo như một nỗ lực vãn hồi đầy tuyệt vọng, lại như một tiếng cười mỉa của quá khứ vàng son trước hiện tại tang thương.

Với bài Long thành cầm giả ca, ám ảnh về sự tàn tạ của người cũ trên đất cũ Thăng Long trong Nguyễn Du lại càng đậm nét. Ngày xưa, hình ảnh người con gái gảy đàn là:

Xuân độ ấy đương hồi ba bảy
Ánh hồng trang lộng lẫy mặt hoa
Não người vẻ rượu ngà ngà
Năm cung dìu dặt nảy qua phím đàn

(Hoàng Tạo dịch).

Đặc biệt ấn tượng là hiệu ứng mà người ấy tạo ra đối với quan khách là các tướng lĩnh Tây Sơn:

Tây Sơn quan khách la đà
Mải vui quên cả tiếng gà tan canh
Tả lại hữu tranh giành gieo thưởng
Tiền như bùn ước lược qua qua
Vương hầu thua kẻ hào hoa
Ngũ Lăng chàng trẻ ai mà kể chi


(Rất dễ thấy cái cung cách hào phóng của người thưởng ngoạn nghệ thuật xuất thân võ biền qua đoạn thơ này).

Còn đây là hình ảnh của chính người gảy đàn ấy, ngày nay, già nua xấu xí và bị chìm khuất:

Mé cuối tiệc một người nho nhỏ
Tóc hoa râm mặt võ mình gầy
Bơ phờ chẳng sửa đôi mày
Tài hoa ai biết đất này không hai


Nguyễn Du nhỏ lệ xót thương cho sự tàn tạ của cô Cầm: “Lệ thương tâm ướt vạt áo là” (Thương tâm vãng sự lệ triêm y). Nhưng từ đó, ông bộc lộ cảm khái trước thế sự

Cuộc thương hải tang điền thấm thoát
Cõi nhân gian thành quách đổi dời
Tây Sơn cơ nghiệp đâu rồi
Mà làng ca vũ một người còn trơ


Kỳ tiệc vui bên hồ Giám ngày xưa, có người đàn, có những người thưởng đàn, nhưng nay chỉ còn lại một vế. Cô Cầm kia, tuy tàn tạ, nhưng vẫn là một tồn tại trước những bể dâu. Còn nhà Tây Sơn, hùng mạnh thế ấy, song hóa ra bạo phát bạo tàn, tựa như một thoáng phù du của quyền lực trong cõi nhân gian. Dấu nối giữa số phận của một cá nhân và số phận của một triều đại đã được vạch ra. (Sắc thái đối lập giữa sự còn/ mất này nổi lên rõ hơn trong nguyên tác Hán văn: Tây Sơn cơ nghiệp tận tiêu vong/ Ca vũ không di nhất nhân tại. Sẽ là suy diễn võ đoán nếu chỉ căn cứ vào đoạn thơ này mà nói rằng Nguyễn Du bày tỏ cảm tình cũng như niềm nhớ tiếc của ông với triều Tây Sơn. Có lẽ chỉ nên xem đây như một nhận thức nhuộm màu bi quan của Nguyễn Du về thân phận nhỏ nhoi của con người, về những nỗ lực tuyệt vọng của con người trước thói đỏng đảnh quái ác của Tạo hóa, hay nói cách khác, trước Định mệnh. Một nỗi bi quan mang tính tiên nghiệm đã được khắc sâu thêm trong Nguyễn Du qua sự tái ngộ với các cố nhân trên đất cũ Thăng Long.

Bản thân kinh thành Thăng Long, với Nguyễn Du, cũng là chứng tích của dâu bể sau hai mươi năm ông trở lại. Hai bài Thăng Long ông viết khi sứ bộ từ Phú Xuân dừng chân ở Thăng Long trước khi lên Mục Nam quan cho thấy rất rõ điều đó. Bài Thăng Long thứ nhất, liên hai và liên ba như sau:

Thiên niên cự thất thành quan đạo
Nhất phiến tân thành một cố cung
Tương thức mỹ nhân khan bão tử
Đồng du hiệp thiếu tẫn thành ông

(Những ngôi nhà đồ sộ nghìn xưa, nay thành đường cái
Một dải thành mới làm mất dấu vết cung điện cũ
Những cô gái đẹp từng biết nay đều đã ẵm con
Những bạn hào hiệp lúc trẻ nay thành ông già


Phạm Khắc Khoan và Ngô Ngọc Can dịch).

Bài Thăng Long thứ hai, liên một và liên hai là:

Cổ thời minh nguyệt chiếu tân thành
Do thị Thăng Long cựu đế kinh
Cù hạng tứ khai mê cựu tích
Quản huyền nhất biến đạp tân thanh


(Mảnh trăng ngày trước soi xuống ngôi thành mới
Đây vẫn là Thăng Long, đô thành của các triều vua trước
Đường sá ngang dọc làm lạc mất dấu vết cũ
Tiếng đàn sáo cũng đổi khác, xen lẫn âm thanh mới


Vũ Mộng Hùng và Trần Thanh Mại dịch).

Dễ thấy ở hai bài thơ này, cái nhìn vào Thăng Long của Nguyễn Du là cái nhìn luôn có sự liên hệ, đối chiếu giữa xưa và nay, cũ và mới: một phía là từ “tân” (tân thành, tân thanh), và một phía là các từ “cố” (cố cung), “cổ” (cổ thời minh nguyệt), “cựu” (cựu đế kinh, cựu tích). Vẫn là đất Thăng Long ấy mà cứ ngỡ như là đất Thăng Long nào khác. Bởi lẽ tất cả đã không còn nguyên như trước, cái mới thay thế cái cũ, cái mới đan xen với cái cũ. Thành quách, đường sá, nhà cửa cho chí con người, tất thảy của Thăng Long trong hiện tại đều không khỏi khiến cho ông Chánh sứ Nguyễn Du chạnh lòng nhớ tới Thăng Long trong quá khứ, Thăng Long của cậu Chiêu bảy nhà Xuân quận công Nguyễn Nghiễm. Giữa Thăng Long ấy và Thăng Long này, giữa cậu Chiêu bảy nọ và ông Chánh sứ Nguyễn Du đây là cả một khoảng thời gian đầy biến động, biến động liên tục mà người trong cuộc không thể ngờ tới: loạn kiêu binh, Nguyễn Huệ ra Bắc diệt Trịnh, quân Lưỡng Quảng của Tôn Sĩ Nghị tràn vào và đại bại trước Tây Sơn, rồi đến lượt triều Tây Sơn sụp đổ trước quân lực của Gia Định... Phải nhấn mạnh lần nữa rằng sự nhớ tiếc quá khứ của Nguyễn Du ở hai bài thơ này không gắn với bất cứ triều đại nào. Quá khứ với ông đơn giản là... quá khứ, là thời gian trôi qua và bất khả vãn hồi, là chứng tích để cho thấy rằng con người thật nhỏ nhoi và bất lực trước những biến thiên không thể cưỡng lại. Không ngẫu nhiên mà ở cả bốn bài thơ làm tại Thăng Long, về Thăng Long của Nguyễn Du đều xuất hiện hình ảnh mái đầu bạc:

“Nam hà quy lai đầu tận bạch” (Tôi từ Nam hà trở lại, đầu bạc trắng hết – Long thành cầm giả ca),

“Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long” (Đầu bạc còn được thấy cảnh Thăng Long – Thăng Long I),

“Tự gia đầu bạch diệc tinh tinh” (Mái tóc mình cũng đã bạc lốm đốm – Thăng Long II),

“Bạch đầu tương kiến khốc lưu ly” (Nay đầu bạc gặp nhau, khóc than nỗi lưu ly – Ngộ gia đệ cựu ca cơ). Mái đầu bạc: sự già lão, mệt mỏi, buông xuôi, bất lực trước cuộc thương hải tang điền!

Về mặt nào đó, có thể khẳng định rằng nếu không có quãng thời gian sống ở Thăng Long, sống và thấm nhiễm bầu khí văn hóa đất đế đô, sẽ không thể có một Nguyễn Du tài hoa và tinh tế như chúng ta từng biết qua thơ chữ Hán, qua văn Nôm. Đến lượt mình, Nguyễn Du cũng đã trả nghĩa cho Thăng Long, tất nhiên, theo cách của ông. Bốn bài thơ mở đầu tập Bắc hành tạp lục đã cho thấy một Thăng Long đẹp: cái đẹp của buổi xế chiều, cái đẹp của lá vàng hoa rụng, cái đẹp nhuốm một màu phôi pha...


Hoài Nam


Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng » Góc phố sưu tầm Thời gian được tính theo giờ EST (U.S./Canada)
Trang 1 trong tổng số 1 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Powered by SaoMaiDaNang © Nho'm SaoMai DaNang
Designed for SaoMaiDanang - Nam cuoi cung cua truong SAO MAI