Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng
Đăng Nhập Đăng ký Trợ giúp Thành viên Tìm kiếm Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng

Đạo diễn Đào Bá Sơn

 
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng » Góc phố sưu tầm
Xem chủ đề cũ hơn :: Xem chủ đề mới hơn  
Tác giả Thông điệp
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Hai 2 22, 2010 7:02 am    Tiêu đề: Đạo diá»…n Đào Bá SÆ¡n Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Đạo diễn Đào Bá Sơn:"Long thành cầm giả ca sẽ đủ sức hấp dẫn khán giả!"

(TGĐA) - Đạo diễn Đào Bá Sơn là một người có nhiều kỷ niệm với thủ đô Hà Nội.
Trước đây anh đã từng có dự án làm phim về một văn nhân của đất Kinh thành là nữ sỹ Hồ Xuân Hương song chưa thực hiện được. Thật may mắn, một cơ hội mới đã đến khi anh được hãng phim Giải phóng giao cho dự án phim mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long. PV Tạp chí TGĐA đã có cuộc trò chuyện với anh ngay tại trường quay bộ phim Long thành cầm giả ca tại bối cảnh Thăng Long xưa tại Khu giải trí Thiên đường Bảo Sơn.

Long thành cầm giả ca là một bộ phim lớn hướng tới đại lễ 1000 năm Thăng Long. Đến thời điểm này, bộ phim đã và đang ở giai đoạn nào, thưa ông?

Theo đúng tiến độ công việc, ngày 25/01/2010, Long thành cầm giả ca bắt đầu đóng máy để bước vào khâu hậu kỳ. Thời điểm này, chúng tôi cơ bản đã xong được 2/3 khối lượng công việc. Những bối cảnh như ở Sơn Tây, làng cổ Đường Lâm, phủ Thành Chương, Bắc Giang, Huế và khu giải trí Thiên đường Bảo Sơn đều đã hoàn thành. Sắp tới, đoàn chỉ còn thực hiện nốt những cảnh quay tại Ninh Bình là có thể yên tâm. Tôi rất vui vì mọi việc đang theo đúng hướng và thuận buồm xuôi gió.

Dựa trên bài thơ nổi tiếng Long thành cầm giả ca của đại thi hào Nguyễn Du, chuyện phim vẫn là câu chuyện tình của Tố Như và Cầm?

Đây là câu chuyện do nhà biên kịch Văn Lê phóng tác dựa trên bài thơ Long thành cầm giả ca của đại thi hào Nguyễn Du. Về cơ bản, điểm nhấn của câu chuyện vẫn là mối tình của hai người và số phận của nàng Cầm – người con gái gẩy đàn ở kinh thành Thăng Long.




Đạo diễn Đào Bá Sơn và hai nam nữ diễn viên chính trong phim

Nhận Long thành cầm giả ca, điều ông cảm thấy khó nhất là gì?

Khó nhất là việc phải lùi trở lại 200 năm trước. Lịch sử quá phức tạp để tiếp cận nó, để kể nó một cách tương đối trung thực. Bên cạnh đó là việc phục dựng bối cảnh, trang phục, không khí thành Thăng Long xưa với một kinh phí ít ỏi…

Việc tái hiện lại Tố Như và nàng Cầm vốn chỉ được biết qua văn thơ là một công việc khó khăn. Khi bắt tay vào làm phim, nhân vật Tố Như và Cầm trong suy nghĩ của ông như thế nào?

Nói tới cụ Nguyễn Du có nghĩa là đụng tới cái “hồn văn nghệ” của dân tộc. Đó là một tổng thể hoàn chỉnh về số phận con người cũng như số lượng tác phẩm đồ sộ đi kèm. Chính vì vậy, Long thành cầm giả ca của tôi chỉ xin đề cập đến một góc nhìn nhỏ, một câu chuyện tình của cụ với một người con gái gẩy đàn ở kinh thành Thăng Long trong bài thơ cùng tên Long thành cầm giả ca. Nhưng dù chỉ là góc nhìn nhỏ thôi cũng là một điều thật khó khăn khi tìm vai diễn thể hiện. Trong phim, cuộc tình của cụ trải dài theo thời gian với nhiều mốc cuộc đời từ năm 19 tuổi, 23 tuổi, 30 tuổi và kết thúc là năm 1813 khi cụ đi xứ về, họ gặp nhau lần cuối. Lúc đó, cụ 49 tuổi. Hơn nữa, các biến cố của câu chuyện còn phức tạp khi phải diễn ra trong khung cảnh lịch sử bất ổn định với nhiều triều đại từ thời Lê đến Tây Sơn và Nguyễn Ánh. Điều này đòi hỏi diễn viên thể hiện phải có một phẩm chất đa dạng. Về ngoại hình của cụ, chắc chắn một điều là có một triệu người đọc Nguyễn Du thì cũng sẽ có một triệu hình dung khác nhau. Điểm chung nhất trong suy nghĩ thì đó là một con người có tấm lòng nhân ái, độ lượng, vị tha và rất nhạy cảm. Sự nhạy cảm trong tâm hồn nghệ sỹ đó có cả một chút mạnh mẽ và yếu đuối. Chính vì vậy, ngoài yếu tố ngoại hình ưa nhìn, khuôn mặt thanh tú và tao nhã thì điểm nhấn của nhân vật Nguyễn Du phải là đôi mắt. Theo tôi, đó là đôi mắt phải thể hiện được sự đau đớn cũng như tràn đầy nhân ái. Còn nhân vật nàng Cầm cũng có một sự tương đồng cả về mốc cuộc đời cũng như biến cố lịch sử. Cầm là nhân vật có số phận, u buồn và phải là người phụ nữ nhỏ nhắn, thanh mảnh đậm chất Việt, hợp với dáng ôm đàn Nguyệt.




Cảnh trong phim

Diễn viên Ngọc Ngoan, ca sỹ Nhật Kim Anh là hai cái tên đã được ông lựa chọn khoác lên mình tâm hồn của Tố Như và nàng Cầm. Ông có thể nhận xét một chút về hai diễn viên này?

Ngoan là một diễn viên trẻ, còn Nhật Kim Anh là một ca sỹ, cả hai cũng đã được làm quen với việc thể hiện một vai diễn trong một số phim. Tôi đã gặp họ trong dịp casting phim và nhận thấy rằng đây chính là Tố Như và Cầm mình đã tưởng tượng. Trong phim, Cầm quê quán ở Thanh Hoa Ngoại (Ninh Bình bây giờ). Điều này cũng tương đồng với vùng đất mà Kim Anh sinh ra. Liệu đó có phải cái duyên? Hơn nữa tôi thấy Kim Anh là người nhạy cảm, khi đọc kịch bản xong, những suy nghĩ và cảm nhận của cô ấy về nhân vật mang tới cho tôi nhiều hy vọng. Đến thời điểm này, cả hai đã thể hiện tốt, có nhiều cảnh khiến tôi hài lòng.

Là người gốc Hà Nội, ông đã từng nói trong một bài phỏng vấn rằng mình rất nhớ Hà Nội. Đây là một phim về Thăng Long cũ, nỗi nhớ Hà Nội, tâm tư của một người con Hà Thành của ông được gửi gắm thế nào?

Tôi làm phim này với thái độ tạ ơn mảnh đất đã sinh ra mình, trân trọng và làm đẹp lên trong lịch sử. Tôi cũng muốn khắc họa một nét nào đó trong tâm hồn lớn lao của cụ Tố Như cũng như hình ảnh của một văn nhân Thăng Long xưa. Thật tiếc khi không thể có một cảnh quay nào đó ở Hà Nội khi mà mọi dáng vẻ Thăng Long 200 trước giờ đâu còn. Tôi cũng như ekip đoàn làm phim sẽ tìm mọi cách để ra được một Thăng Long xưa, ra được một tâm hồn cảm thông của văn nhân trí thức ngày xưa...

Đây là phim hướng tới đại lễ 1000 năm Thăng Long nhưng lại không đề cập đến hào khí của dân tộc mà lại đi sâu vào vẻ đẹp một thời của người Hà Nội và nỗi lòng của người trí thức. Đây là một đề tài hấp dẫn và gần gũi với con người làm phim đầy nội tâm như ông. Nhưng vấn đề lớn nhất là lột tả nó như thế nào vì nó rất nhạy cảm. Chi tiết, hình ảnh và cách bộc lộ nào ông cho là đắt và đang suy nghĩ cho phim?

Tôi chưa và cũng không thể nói được. Không phải vì tôi ngại tiết lộ hay không tự tin mà vì những gì đề cập tới chữ “tình” đều có gianh giới mong manh. Sự “cảm” sẽ được cảm nhận rõ hơn nếu xem phim với đầy đủ cảm xúc. Còn để nói thì có những điều tôi tâm đắc nói ra chưa chắc khán giả đã thích và ngược lại.




Đạo diễn Đào Bá Sơn

Có hai chi tiết “đắt” trong câu chuyện tình Tố Như và Cầm. Thứ nhất, đó là khúc Cung phụng say lòng người mà nàng Cầm đã cất lên. Ông chắc có nhiều trăn trở trong việc thể hiện khúc Cung phụng trong phim?

Trong bài thơ Long thành cầm giả ca, cụ Nguyễn Du đã giành rất nhiều tình cảm để miêu tả khúc Cung phụng: “Thoắt chuyển năm cung mấy ngón tiên. Tiếng khoan như gió thoảng rừng thông/ Trong như đôi hạc kêu đêm không/ Mạnh như sét đánh tan bia đá/ Buồn như Trang ốm Việt ngâm nồng…” (Bản dịch Thảo Nguyên). Khúc Cung phụng cũng là điểm nhấn của bài thơ cũng như bộ phim Long thành cầm giả ca. Nó là cái hồn, sợi chỉ đỏ xâu chuỗi của tình cảm hai người. Nhưng khúc Cung phụng là gì, như thế nào? Không ai biết! Sử sách không ghi lại. Khi tôi đề cập vấn đề này với nhạc sỹ Quốc Trung thì nhận được câu trả lời: “Em nói thật, làm sao kiếm được khúc nhạc cũng như người đàn như cụ miêu tả…”. Khúc Cung phụng quả thực là một thách thức. Sau đó, chúng tôi cũng lao đầu vào nghiên cứu và thấy rằng khúc Cung phụng không chỉ là một khúc nhạc mà đó là những bản nhạc chỉ phổ biến trong cung vua và chỉ đàn cho vua nghe, không lưu truyền ra ngoài. Dân 200 năm trước còn không được nghe thì tôi và các bạn làm sao còn biết được, chỉ tưởng tượng thôi. Hơn nữa, khi đọc bài tiểu dẫn của cụ Nguyễn Du trước bài thơ thì thấy cụ miêu tả nàng Cầm là một người nhan sắc không phải nổi trội: “Nàng người thấp má bầu, trán giô, mặt gẫy. Không đẹp lắm, nhưng da trắng trẻo, khéo trang điểm, mày thanh, má phấn, áo màu hồng, quần sắc túy, hớn hở có bề phong tao. Tánh lại hay rượu, ưa hí hước. Đôi mắt long lanh không để một ai vào tròng” (bản dịch Quách Tấn) nhưng trong bài thơ thì cụ lại miêu tả nàng là Long Thành giai nhân: “Lúc đó nàng khoảng hai mươi mốt tuổi/ Áo hồng ánh lên mặt hoa đào/ Má hừng rượu, vẻ ngây thơ, rất dễ thương…”. Có điều trái ngược đó là ở đâu? Là do tình yêu. Khi ta yêu một người nào đó thì cảm xúc sẽ nhân lên gấp bội. Khúc Cung phụng được mô tả trong xúc cảm đó của cụ. Chính điều đó gợi mở cho chúng tôi rằng sự cuốn hút của khúc Cung phụng sẽ đọng lại trong tâm trí người xem nếu xúc cảm của bộ phim, của mối tình Tố Như – nàng Cầm đủ sức cuốn hút khán giả.

Theo như ông nói, khúc Cung phụng được nhạc sỹ Quốc Trung đảm nhiệm. Cá nhân ông khi nghe những khúc đó, ông thấy thế nào?

Có những bài tôi rất thích!

Chi tiết thứ 2 là “sau 20 năm, Tố Như và nàng Cầm gặp nhau. Họ đã già, chỉ còn khúc nhạc vẫn như xưa. Họ đã có với nhau 1 đêm. Hôm sau, Tố Như tặng Cầm 1 bài thơ rồi bỏ đi”. Thể hiện cái đêm đó như thế nào? Gianh giới giữa “Vô tình” và “hữu tình” của Tố Như rất mong manh. Nếu không cẩn thận thì Tố như thành 1 người vô tình, tầm thường….Ông nghĩ sao?

Hãy chờ phim ra, coi phim và các bạn có thể phán xét.

Xin cảm ơn ông!

Gia Hoàng


Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Hai 2 22, 2010 9:36 am    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Cây đàn của Thúy Kiều

GS Trần Văn Khê






Năm 1976, sau buổi nói chuyện của tôi về giá trị âm nhạc dân tộc Việt Nam tại trường âm nhạc Hà Nội, một giảng viên về văn học cho sinh viên trường nhạc có đặt câu hỏi:"Từ lâu, tôi thắc mắc chẳng biết rõ Thúy Kiều dùng cây đàn gì? Xin anh giải đáp cho nếu anh có dịp nghiên cứu về vấn đề ấy?"Anh thắc mắc là phải. Vì khi giới thiệu nhân vật Thúy Kiều, cụ Nguyễn Du đã cho chúng ta biết rằng:

Cung thương là bực ngũ âm
Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một chương


mà hồ cầm thường dùng chỉ một cây đàn của "thợ Hồ" tức là không phải đàn Trung Quốc. Người Trung Quốc gọi đàn nhị là nhị hồ (erhu) hay là hồ cầm (huquin). Nhưng đàn nhị chỉ có hai dây lại có cung kéo, đàn của Thúy Kiều có bốn dây, lại có khảy và nhấn. Khi đàn chi Kim Trọng nghe thì nàng đã:

So lần dây Vũ dây Vân
Bốn dây to nhỏ theo vần Cung Thương


lúc bị Hoạn Thư bắt thì phải đàn cho Thúc Sinh nghe:Bốn dây như khóc như thanKhiến người trên tiệc cũng tan nát lòngsau khi Từ Hải chết, nàng phải đàn cho Hồ Tôn Hiến nghe thì:

Một cung gió tủi mưa sầu
Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay






Ðã là hồ cầm mà có bốn dây thì chỉ có đàn tỳ bà - người Trung Quốc và Triều Tiên gọi là pipa, người Nhựt Bổn gọi là biwa. Người Trung Quốc cũng gọi đàn pipa là huqin, tức là hồ cầm, vì đàn ấy không phải do người Trung Quốc chế ra mà của dân tộc vùng Tây á đem vào. Giáo sư Nhựt Tanabe Hisao và Kishibe Shigeo cho rằng đàn pipa có thể bắt nguồn từ đàn barbat của người Ba Tư, đã theo con đường buôn bán tơ lụa ngày xưa mà nhập vào Trung Quốc, rồi sau đó sang Triều Tiên, Nhựt Bổn, Việt Nam: chính vì vậy trong các quyển truyện Kim Vân Kiều, người ta thường vẽ Thúy Kiều ôm đàn tỳ bà.Khi Thúy Kiều đàn cho Hồ Tôn Hiến nghe đến chảy máu năm đầu ngón tay, làm cho Hồ cũng “nhăn mà rơi châu", trước khi nàng được xin phép về, có than phận mình:

Còn chi nữa, cánh hoa tàn
Tơ lòng đã đứt, dây đàn Tiểu lân


Tiểu Lân là Phùng Tiểu Lân, vợ vua nước Tề, đàn tỳ bà rất hay. Sau khi nghe vua nước Tề bị giặc giết, vua Võ Ðế nhà Châu bắt Tiểu Lân gả cho vua Ðại Vương tên Ðạt. Nhân khi đàn đứt dây, đã làm bài thơ: Tuy tụ kim nhựt sủng Du tích tích thời duyên Dục tri âm đoạn tuyệt Ưng khán tất thương huyền

Trong quyển Kim Túy Tình Từ, mà theo giáo sư Thuần Phong thì do chính cụ Nguyễn Du chú giải, có bài thơ nôm dịch như sau đây:

Tuy là yêu mến ngày nay
Hãy còn nhớ tiếc những ngày trước kia
Nếu muốn biết ruột gan lìa
Thì nên xem lấy dây kia trên đờn.


Cây đàn của Thúy Kiều chắc chắn sẽ là đàn tỳ bà, nếu không có câu:

Hiện sau treo sẵn cầm trăng
Vội vàng, Sanh đã tay nâng ngang mày






Kim Trọng thấy cây cầm trăng tức nguyệt cầm - gọi như thế là vì thùng đàn hình tròn như trăng rằm - đã nâng đàn ngang mày mời Thúy Kiều so dây nắm phím. Thùng đàn tỳ bà hình bầu dục như nửa trái lê, làm sao tròn như trăng được? Nếu mà đàn nguyệt thì thùng đàn tròn mà đàn chỉ có hai dây lại không mang tên là hồ cầm. Như thế không ổn chút nào cả. Huống chi là dưới thời cụ Nguyễn Du, tức là vào khoảng gần nửa thế kỷ thứ 18, thì nước ta có một cây đàn mà thùng tròn, cần dài mang tên là "cái đàn song vận". Trong sách Vũ Trung Tùy Bút của Phạm Ðình Hổ, có nói đến “đàn đáy, đàn tranh gảy bằng tiếng tơ", và "gần đây mới chuộng đàn nguyệt, thứ hồ cầm đời cổ còn gọi tên đàn là Nguyễn cầm", bởi ông Nguyễn Hàm đời Tấn chế ra, mà không nói đến cái đàn song vân. Chỉ trong bộ Ðại Thanh hội điển sử lệ, quyển 528, tờ số ba, có đoạn nói về dàn nhạc nước ta, sang ở tại triều nhà Thanh từ năm 1789, gọi là An Nam quốc nhạc, đến năm 1804 đổi tên là Việt Nam quốc nhạc, có nhiều cây đàn mà người Trung Quốc đã ghi tên bằng chữ nôm: một cái cổ (trống), một cái phách (sinh tiền), hai cái sáo, một cái đàn huyền tử (đàn tam), một cái đàn hồ cầm (đàn nhị), một cái đàn song vận hay là đàn nguyệt cầm, một cái đàn tỳ bà, một cái đàn tam âm la (3 cái thanh la nhỏ). Nếu là đàn nguyệt thì tên nó là cái đàn song vận, mà lại không thể gọi là hồ cầm. Như vậy thứ cây đàn của Thúy Kiều chỉ có thể là Nguyễn cầm, vừa có thùng tròn như đàn nguyệt, có 4 dây thuộc về loại tỳ bà, mà cũng gọi là hồ cầm. Sách Thích Danh, về cây đàn tỳ bà, có chép rằng tỳ bà có ba loại: tứ huyền tỳ bà - thùng bầu dục có 4 dây, ngũ huyền tỳ bà - hình dáng như cây trước mà có 5 dây - người Triều Tiên cũng gọi là Hương tỳ bà - tức là tỳ bà của Triều Tiên, và Nguyễn cầm thùng tròn và có 4 dây to. Nguyễn cầm thì nay không còn thấy ở Trung Quốc, mà tại viện bảo tàng viện Shosoin ở tỉnh Nara ( Nhựt Bổn) còn nhiều cây Nguyễn cầm thời xưa.

Tôi lại nói thêm tin chắc rằng Thúy Kiều đã dùng cây Nguyễn cầm, khi tôi đọc một bài thơ chữ Hán của cụ Nguyễ Du, "Long thành cầm giả ca", in trong quyển thứ ba Hợp tuyển văn thơ Việt Nam, tại Hà Nội năm 1963, trong đó cụ cũng để trong tay một người đàn bà ở Long Thành cây đàn Nguyễn cầm.

Long Thành giai nhân
Tính thị bất kỳ danh
Ðộc thiện Nguyễn cầm
Cử thành chi nhân dĩ cầm danh


(người đẹp ở Long Thành, không biết tên họ là chi, mà tiếng đàn Nguyễn cầm rất hay, nên người trong thành đều gọi là Cô Cầm). Cụ đã gặp cô ấy hai mươi năm về trước, lúc nhan sắc cô còn lộng lẫy, tiếng đàn điêu luyện đã làm sau mê các quan Tây Sơn trong buổi tiệc ở Hồ Giám. Khi Nguyễn Văn Thành, quan tổng trấn của nhà Nguyễn hội yến, trong buổi tiệc có cụ Nguyễn Du, cụ lại được nghe tiếng đàn của người đẹp năm xưa, mà nay nét mặt võ vàng, thần sắc khô khan. Tóc cụ đã bạc trắng, mà tóc Cô Cầm cũng hoa râm. Cụ xúc động làm bài thơ ấy, trong đó có đoạn tả tiếng đàn của Cô Cầm:

Lịch loạn ngũ thanh tùy thủ biến
Hoãn như sơ phong độ tùng lâm
Thanh như song hạc minh tại âm
Liệt như tiến phúc bi đồ toái tích lịch
Ai như Trang Tích, bệnh trung vi Việt ngâm...


Khương Hữa Dung đã dịch đoạn ấy ra như sau đây:

Dưới năm ngón cung đàn réo rắt
Trong như tiếng hạc kêu sương
Khoan như gió sớm lướt ngang rừng tùng
Mạnh như sấm sét đùng đùng
bia Tiến phúc nát từng mảnh con
Buồn như Trang Tích ốm mòn
ngâm tiếng Việt nỗi buồn quê xa...






Cụ Nguyển Du đã cảm xúc khi nghe tiếng đàn Nguyễn cầm của người đẹp Long Thành thưở nọ. Và cây Nguyễn cầm thời ấy có lẽ cũng được nhiều người ưa thích. Cụ Nguyễn Du khi đặt trong tay nhân vật chính của truyện Kiều một cây đàn, mặc dù nhân vật đó theo sách xưa ở vào thời Gia Tĩnh triều Minh, tức là giữa thế kỷ thứ 16, cũng đã nghĩ đến cây Nguyễn cầm, nên mới có những đoạn nói về cây hồ cầm 4 dây mà thùng tròn như trăng rằm.

Khi trả lời cho anh bạn giảng viên trường âm nhạc, tôi có nhắc đến sự tích của đàn tỳ bà, đến đoạn nói về cây đàn song vận trong bộ Ðại Thanh hội điển sự lệ, đến quyển Vũ Trung Tùy Bút của Phạm Ðình Hổ, đến bài Long Thành cầm giả ca, có chổ gọi là bài Cầm giả dân, để kết luận cây đàn của Thúy Kiều không thể là cây đàn tỳ bà, hay là đàn nguyệt, chính là cây Nguyễn cầm mà ngày nay đã thất truyền.


Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Sáu 2 26, 2010 6:49 am    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này


VĂN HÓA VĂN NGHỆ


Kịch bản “Long thành cầm giả ca” của tác giả Văn Lê, đoạt giải nhất cuộc thi viết về 1.000 năm Thăng Long (do Bộ VH-TT-DL và UBND TP Hà Nội tổ chức) đã được nhà nước đặt hàng cho Hãng phim Giải Phóng sản xuất, NSƯT Đào Bá Sơn là đạo diễn của bộ phim này. Theo dự kiến phim sẽ chính thức bấm máy vào tháng 10 tới để kịp tiến độ giao phim vào tháng 6-2010. Nhưng đến thời điểm này, anh hầu như không muốn nói nhiều về bộ phim, phần vì thời gian gấp rút, bận rộn và phần vì trong anh còn đầy những băn khoăn, trăn trở…

° Anh có bị áp lực bởi bộ phim hay không?

° Tôi bị thuyết phục bởi kịch bản ngay từ khi đọc nó dưới cương vị của một thành viên trong Hội đồng Nghệ thuật của Hãng phim Giải Phóng. Khi ấy, tôi chưa hề nghĩ mình sẽ được giao làm. Đọc kịch bản, tôi hình dung ngay ra vẻ đẹp thơ mộng của thành Thăng Long, của những số phận con người trong thời khắc biến thiên lịch sử nghiệt ngã ấy. Giờ đây khi trở thành đạo diễn của bộ phim này, tôi thấy mình là một người may mắn. Bộ phim là một thách thức lớn đối với tôi vì tôi chưa bao giờ làm phim lịch sử, nhưng tôi nghĩ mình sẽ vượt qua dù nó khó khăn và gian nan… Thời kỳ đầu khi viết kịch bản phân cảnh, tôi hoàn toàn bị ám ảnh bởi câu chuyện, tôi viết phân cảnh trong một trạng thái vừa thích thú, vừa khó khăn, vừa lôi cuốn.

° Anh sẽ thực hiện nó thế nào?


° Trên tinh thần tôn trọng kịch bản của tác giả Văn Lê, đây là một phiên bản của thi hào Nguyễn Du, nên dù sáng tạo, thêm bớt gì thì tôi vẫn giữ vững thần thái ấy. Ý định của tôi là kể câu chuyện giống như một bức tranh lụa đẹp và buồn. Nhưng trên hết là sự tôn trọng sự thật lịch sử, những bối cảnh mang đậm dấu ấn văn hóa. Phim sẽ tránh tối đa kịch tính, xung đột, sắc độ tương phản. Tôi muốn tìm sự hấp dẫn theo kiểu nhẹ nhàng, trữ tình. Điều đó đòi hỏi sự thống nhất, hài hòa trong tổng thể từ kịch bản, quay phim, ánh sáng, diễn xuất của nhân vật, âm nhạc, vũ đạo…

° Anh đã tìm được diễn viên cho bộ phim?


° Tìm diễn viên cho bộ phim này khá vất vả. Đó phải là những diễn viên chuyên nghiệp, bởi các nhân vật đòi hỏi khả năng diễn xuất tốt. Nhân vật nữ chính trong phim phải mang vẻ đẹp cổ điển của những phụ nữ Việt Nam xưa: “mỏng mày hay hạt”, mắt một mí. Ngoài ngoại hình đẹp, nhân vật còn cần biết đàn, biết hát. Tôi đã từng phát hiện ra “cô ấy”, một diễn viên có ngoại hình hoàn toàn giống yêu cầu đặt ra, nhưng rất tiếc là cô ấy đã từ chối vì có kế hoạch cá nhân. Hiện nay tôi cũng nhắm được 1-2 gương mặt và cũng đã gửi kịch bản để các bạn đó đọc và chuẩn bị thử vai. Vai nam chính yêu cầu thần thái thông minh, nhân hậu, người đó phải có dáng vẻ nho nhã, đó là phẩm chất của Nguyễn Du… Một diễn viên nữa khá quan trọng trong phim đó là vai cô bé Cầm khi còn nhỏ. Cô bé này sẽ chiếm ¼ thời lượng phim. Tôi cũng đã tìm ra cô bé ấy.

° “Cầm giả ca” - bài ca về người gảy đàn, ngay cái tên của bộ phim cũng cho thấy yếu tố âm nhạc và ca khúc trong phim đóng vai trò quan trọng?

° Âm nhạc đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong bộ phim này. Nó chính là diện mạo của bộ phim. Để làm nhạc cho phim đòi hỏi người nhạc sĩ phải am tường âm nhạc dân tộc, có thể sáng tác tốt những giai điệu, ca khúc đủ sức làm lay động lòng người. Tôi đã tìm được 2 nhạc sĩ giỏi để làm điều này. Kinh phí dự trù để làm được nhạc cho phim vào khoảng 500 triệu đồng…



° Có một số phim truyện nhựa và truyện truyền hình cũng được đặt hàng nhân dịp kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long. Được biết kinh phí dành cho các tác phẩm này không nhỏ…

° Tôi nghe nói bộ phim truyền hình “Trần Thủ Độ” kinh phí hơn 50 tỷ đồng, còn đạo diễn Lưu Trọng Ninh nghe đâu sẽ không nhận làm “Chiếu dời đô” nếu kinh phí dưới 60 tỷ đồng. Tôi chỉ ao ước bộ phim này của mình có được 10 tỷ đồng để thực hiện. Những bộ phim lịch sử luôn tốn kém.

phim truyền hình “Trần Thủ Độ” cũng đang thực hiện, thiết kế cho bộ phim này rất hoành tráng, anh có thể “mượn tạm” để giảm bớt chi phí cho “Long thành c° Nhắc tới những bộ phim lịch sử là nhắc tới bối cảnh, đạo cụ, trang phục… Bộ ầm giả ca”?

° Trước tiên phải nói là tôi rất xúc động và cảm ơn anh em, đồng nghiệp ở Hà Nội. Mọi người ai cũng nhiệt tình và tạo mọi điều kiện để chúng tôi làm việc. Hãng phim Hội Điện ảnh cho mượn văn phòng để casting diễn viên. Hãng phim Truyện 1 cho phép chúng tôi thoải mái vào kho đạo cụ để lựa chọn những gì phù hợp với “Long thành cầm giả ca”… Tuy nhiên, những thứ thực sự tốn kém thì chúng tôi lại không thể dùng chung do hai thời kỳ lịch sử hoàn toàn khác nhau. Bộ phim của chúng tôi ở vào giai đoạn cuối Lê đầu Nguyễn, còn bối cảnh trong “Trần Thủ Độ” lại thuộc triều Lý. Những trang phục dành cho vua, quan, chúng tôi phải may mới toàn bộ; những chiếc kiệu dành cho vua, quan… cũng khác nhau và phải đặt đóng mới có. Chỉ tính riêng chi phí cho bối cảnh, đạo cụ cũng lên tới trên 2 tỷ đồng, chưa kể trang phục khoảng 500 triệu đồng. Khi ra Bắc tìm bối cảnh cho “Long thành cầm giả ca”, tôi có dịp ghé thăm phim trường của “Trần Thủ Độ”, phải thú thực là tôi thèm và mơ ước bộ phim của tôi cũng có được điều kiện tốt như thế. Bộ phận sản xuất của họ rất năng động và chuyên nghiệp…

° Điều anh lo lắng nhất hiện nay đối với bộ phim “Long thành cầm giả ca”?

° Đó là tiến độ của bộ phim. Để kịp thời gian, bộ phim buộc phải bấm máy trong tháng 10. Tuy nhiên, hiện nay chúng tôi vẫn đang còn một số khúc mắc chưa được giải quyết. Trong khi đó, mọi thứ phải thống nhất thì đoàn phim mới có thể bắt tay vào công đoạn đầu tiên là may trang phục cho diễn viên. Nên biết, ở bộ phim này, dù là một diễn viên quần chúng cũng cần quần áo và hóa trang. Trách nhiệm của chúng tôi là phải tạo ra được không khí lịch sử, một không khí của thành Thăng Long đẹp và buồn dựa trên nền tảng văn hóa thuần Việt… Điều mà tôi mong muốn nhất hiện nay đó là “Long thành cầm giả ca” sẽ được tạo điều kiện tốt về bối cảnh, phục trang, đạo cụ và linh hồn của tác phẩm - âm nhạc - để có thể xây dựng nên một tác phẩm điện ảnh đúng nghĩa

HÀ GIANG



Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Sáu 4 30, 2010 8:13 am    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Đào Bá Sơn - Tròn vai người thầỳ .

Bên cạnh vai trò đạo diễn thuộc biên chế của Hãng phim Giải Phóng, nhiều năm qua NSƯT Đào Bá Sơn còn là giảng viên Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh TPHCM. Hào quang của một diễn viên, đạo diễn khiến nhiều khán giả không biết rằng NSƯT Đào Bá Sơn còn là một nhà giáo…

Giọt nước mắt người thắng giải .


Dù là một sinh viên, song Hồ Thanh Tuấn khá chững chạc so với bạn bè cùng khóa khi đã ngoài 30 tuổi, vậy mà lúc lên nhận giải Cánh diều vàng 2009, anh cũng không kìm được nước mắt khi nói lời cám ơn chân thành tới người đã dìu dắt, hướng dẫn anh, đó là thầy Đào Bá Sơn. “Sau này khi đã ra trường, đi làm, nhưng lúc nào gặp khó khăn, em lại xin được trở về gặp thầy, xin thầy cho em những lời khuyên giống như em vẫn là học trò của thầy…” – lời phát biểu của Tuấn khiến mọi người rưng rưng xúc động.

Khi nghệ sĩ Đào Bá Sơn bước lên sân khấu nhận bó hoa từ học trò, đến lúc ấy mọi người mới biết anh cũng có mặt tại buổi trao giải. Chiếc áo thun giản dị “tố cáo” việc anh không hề chuẩn bị để có mặt trên sân khấu. Anh đã ngồi ở cuối hội trường và lặng lẽ theo dõi kết quả của những học trò mình trong cuộc thi. Hầu hết sinh viên Trường ĐH SKĐA TPHCM có tác phẩm dự thi đều là học trò của anh.

Không chỉ Hồ Thanh Tuấn, bất cứ sinh viên nào đã là học trò của thầy Đào Bá Sơn cũng nhận xét về thầy Sơn với đầy tình cảm trân trọng và quý mến. Và cũng không phải chỉ mình Hồ Thanh Tuấn đoạt giải vàng năm 2009, mà còn rất nhiều những giải thưởng đã được các sinh viên của thầy Sơn mang về cho nhà trường trong những kỳ LHP ngắn trước. Trong đó, có cả giải thưởng mang tính quốc tế, có sinh viên được mời tham gia dự án phim tài liệu tại Pháp….

Người khai phá mảnh đất phim tài liệu

Đó là nhận xét của cô Phan Bích Hà, Hiệu trưởng Trường ĐH SKĐA dành cho thầy Đào Bá Sơn. “Thầy Sơn là người đầu tiên nhen nhóm, đốt đuốc, khai phá và làm cho thể loại phim tài liệu bừng sáng ở trường… Nhiều tác phẩm của các em trong những phim tài liệu vừa qua khiến tôi rất tự hào…”.

Còn nhà văn, nhà biên kịch, đạo diễn Văn Lê, đồng nghiệp của nghệ sĩ Đào Bá Sơn ở Hãng phim Giải Phóng và cũng là giáo viên thỉnh giảng ở ĐHSKĐA thì nói: “Cần phải ghi nhận người có công lớn trong việc đào tạo làm phim tài liệu tại Trường ĐH SKĐA là thầy Đào Bá Sơn. Tôi rất phục thầy Sơn, chính thầy là người tạo nên diện mạo cho phim tài liệu ở trường, thầy khiến sinh viên bắt đầu biết cái đau của người bình thường trong cuộc sống. Một người nghệ sĩ nếu không biết chia sẻ nỗi đau sẽ khó làm nên một tác phẩm nghệ thuật…”.

Cách đây chừng 2 tháng, tại một buổi chiếu phim tài liệu của sinh viên Trường ĐHSKĐA, chúng tôi đã chứng kiến một không khí thật cởi mở, thoải mái. Sau khi xem các bộ phim, mọi người cùng tranh luận về ý đồ cũng như cách thể hiện trong phim. Không hề có sự áp đặt hay khoảng cách như thường thấy trong lớp học bình thường khác. Đó cũng chính là lý do vì sao có sự gắn bó như vậy giữa thầy và trò ở lớp học do thầy Đào Bá Sơn phụ trách.

“Tôi thường nói với các sinh viên, các em đến đây, tôi đến đây để chúng ta cùng học, cùng sáng tạo. Và, chúng ta là đồng nghiệp. Chính điều này giúp tôi đi sâu vào nghề nghiệp của mình…” – NSƯT Đào Bá Sơn tâm sự về cách một đạo diễn, diễn viên và thầy giáo Đào Bá Sơn đến với sinh viên…

…"Gần đến ngày nộp phim không hề có nụ cười chỉ có những gương mặt nhăn nhó và những câu nói: em đang quay, em đang dựng, em sắp xong…, nhưng tôi sẵn sàng chấp nhận những lời nói dối đó, nó hứa hẹn một kết quả rằng các em sẽ thực hiện…”- NSƯT Đào Bá Sơn kể. Lời “năn nỉ” dễ thương của thầy khiến cho không sinh viên nào “lỡ” hứa lèo việc nộp bài thi.

Thầy quá hiểu trò và quá hiểu cái công việc khó khăn mà thầy cùng trò cùng phải vượt qua. Sáng tạo nghệ thuật không bao giờ dễ dàng. “Hãy cố gắng duy trì và sáng tạo những cái mới trong cách kể, hãy miêu tả hài hòa giữa đời và đạo trong tác phẩm của các em…” – đó là lời dặn dò mà thầy Sơn nói với học trò trước khi thầy chia tay, nghỉ dạy 1 năm để dành toàn thời gian tâm sức cho một dự án phim truyện lớn mà thầy đang thực hiện tại Hãng phim Giải Phóng. Hàng chục sinh viên của khóa đạo diễn kế tiếp cùng la lên phản đối. Chúng tôi nhận thấy sự tiếc nuối trong các bạn sinh viên. Dường như từ đáy lòng, người các bạn muốn được học sẽ vẫn là thầy Sơn!

HÀ GIANG .


Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng » Góc phố sưu tầm Thời gian được tính theo giờ EST (U.S./Canada)
Trang 1 trong tổng số 1 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Powered by SaoMaiDaNang © Nho'm SaoMai DaNang
Designed for SaoMaiDanang - Nam cuoi cung cua truong SAO MAI