Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng
Đăng Nhập Đăng ký Trợ giúp Thành viên Tìm kiếm Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng

GIỌT NƯỚC MẮT KHÓC TỐ NHƯ ...

 
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng » Góc phố sưu tầm
Xem chủ đề cũ hơn :: Xem chủ đề mới hơn  
Tác giả Thông điệp
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Tư 9 22, 2010 7:27 am    Tiêu đề: GIỌT NƯỚC MẮT KHÓC TỐ NHƯ ... Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Giọt nước mắt khóc Tố Như
Chỉ với những lời thơ trong bài thơ Long Thành cầm giả ca, nhà biên kịch Văn Lê đã khắc họa nên số phận của một cô đào nương đất Long Thành và mối tình nhẹ nhàng giữa nàng và tân khoa Nguyễn Tố Như .

Bộ phim Long Thành cầm giả ca (kịch bản NSƯT Văn Lê, đạo diễn Đào Bá Sơn, Hãng phim Giải Phóng sản xuất, kịch bản giành giải nhất cuộc thi Kịch bản điện ảnh kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội) vừa có buổi ra mắt báo giới trước khi chính thức được công chiếu từ ngày 1-10. Đây là phim do Nhà nước đặt hàng sản xuất trong đợt kỷ niệm Thăng Long- Hà Nội 1.000 năm tuổi.

Chuyện tình 200 năm trước :

Chỉ với những lời thơ trong bài thơ Long Thành cầm giả ca (bài thơ đầu tiên trong tập Bắc hành tạp lục của đại thi hào Nguyễn Du, viết trong chuyến đi sứ sang Trung Quốc của ông vào khoảng năm 1813-1814), nhà biên kịch Văn Lê đã khắc họa nên số phận của một cô đào nương đất Long Thành và mối tình nhẹ nhàng giữa nàng và tân khoa Nguyễn Tố Như.

Bối cảnh phim là giai đoạn của những cuộc biến loạn khủng khiếp từ giữa cuối thế kỷ thứ XVIII đến đầu thế kỷ XIX với sự thay ngôi, đổi chúa, thù trong giặc ngoài, kiêu binh nổi loạn.

Nhưng nỗi ám ảnh của Long Thành cầm giả ca không là những hình ảnh binh biến, chiến chinh tàn khốc mà là nỗi đau đời, lằn ranh số phận mong manh giữa người tri thức và người nghệ sĩ “cùng một lứa bên trời lận đận”. Một thế hệ tồn tại hiển nhiên, hữu hình không vô hạn nhưng để lại trăm năm sau những giá trị trường tồn bất tận với thời gian.

Phim bám kỹ vào thông điệp mà nhà biên kịch Văn Lê đặt ra: “Các triều đại có thể bị phế truất, thay đổi nhưng văn hóa dân tộc thì mãi mãi trường tồn”. Sợi chỉ đỏ xuyên suốt phim và xâu chuỗi tình cảm giữa Tố Như và cô đào nương chính là Khúc cung phụng làm say lòng người.

Mối tình giữa Tố Như (diễn viên Quách Ngọc Ngoan) và nàng Cầm (Nhật Kim Anh) cũng kéo dài qua những triều đại, trùng phùng rồi chia ly qua bao lần tao loạn.

Tố Như tình cờ gặp cô đào nương ở tuổi 20 thanh xuân cho đến khi nhan sắc nàng tàn úa phôi pha, chỉ có tiếng đàn là vẹn nguyên khúc nhạc mang nỗi buồn thân phận.

Nếu những bài thơ của Nguyễn Tố Như vẫn đau đáu với những tháng năm biến loạn thì tiếng đàn nguyệt của nàng Cầm như là một nét đẹp khoan nhặt ngân lên từ giá trị vĩnh cửu.

Cây đàn nguyệt theo nàng lên đất Long Thành từ khi nàng còn nhỏ, rồi cũng cây đàn ấy theo chân nàng qua bao lần tao loạn, giữa sự sống và cái chết, giữa hội ngộ và chia ly, kể cả trong sự hủy diệt tàn khốc của thời gian. Và cây đàn nguyệt – giá trị văn hóa của dân tộc – vẫn còn nằm lại bên dòng thời gian ngay cả khi người đã về với cõi vĩnh hằng.

Phim nói về một thời biến động nhưng không tập trung khắc họa những cuộc binh biến, chiến chinh mà là sự khoan nhặt, bàng bạc chất thơ về mối duyên tình nhẹ nhàng giữa thi hào Nguyễn Du và cô đào nương gảy đàn của đất Long Thành.

Hồn Việt cho phim cổ trang Việt

Vào vai nàng ca nương tên Cầm (lúc nhỏ có tên Gái), diễn viên Nhật Kim Anh đã cho nhân vật một khuôn mặt nội tâm, u buồn đến ngơ ngác.

Số phận lênh đênh chìm nổi của nàng Cầm đã được dự đoán ngay từ khi nàng còn rất nhỏ, từ xuất thân là con của một đào nương, từ lời nói “người có khuôn mặt nội tâm như thế không nên ra đời”, từ tiếng đàn gãy khúc giữa chừng, từ ánh mắt quyện tâm tư vào lời ca, tiếng nhạc và từ cả cách khóc “chỉ khóc một bên mắt, mắt còn lại để nhìn thấy đường mà đi”...

Diễn viên Quách Ngọc Ngoan cũng diễn tả được cái thần của một nho sĩ mang tâm hồn trong sáng, thanh cao nhưng luôn ưu tư, đau đáu trước thời cuộc.

Có thể nói, Quách Ngọc Ngoan và Nhật Kim Anh đã đủ sức để lại sự lắng đọng cho nhân vật và làm nên linh hồn của bộ phim.

Sự góp mặt của NSƯT Trần Lực, diễn viên Bùi Bài Bình trong vai Nguyễn Khản, Thùy Trung Hầu... cũng góp phần làm nên bức chân dung của thế hệ trí thức yêu nước trung kiên lúc bấy giờ.
Long Thành cầm giả ca còn là tiếng nói cho thân phận của người phụ nữ một thời. Cầm chỉ là một trong muôn người trong dòng chảy loạn lạc đã neo giữ lại giọng hát, tiếng đàn – là niềm tự hào mà cũng là nỗi bi ai lớn nhất của người phụ nữ Việt Nam.

Ở thời đại mà người phụ nữ “không có quyền lên tiếng bàn chuyện đại sự” ấy chỉ có thể nuôi thân mình bằng cung đàn phím nhạc, cuộc đời thả vào tiếng nguyệt cầm khoan nhặt không biết được khi nào đàn sẽ đứt dây và đời sẽ lưu lạc, chỉ biết một điều đớn đau rằng đời ca nữ không bao giờ có được hạnh phúc.

Long Thành cầm giả ca đã chuyển tải cái hồn của con người ở thời đại nhiều thăng trầm.

Ngay từ những thước phim đầu tiên, Long Thành cầm giả ca đã đánh tan mối lo ngại trong lòng người xem về việc “phim Việt, hồn Trung Quốc” khi trang phục, bối cảnh trên phim đều thuần Việt.

Cả một không gian Bắc Bộ xưa được tái dựng chăm chút, tinh tế từng chi tiết.

Đạo diễn Đào Bá Sơn nói ông muốn phục dựng một Thăng Long với những vẻ đẹp đã mất. Và ông đã làm được điều này khi không chỉ làm sống lại hình ảnh của những trí thức, những nghệ sĩ ôm tiếng đàn của một thời mà còn tái dựng được cả những nét sinh hoạt, văn hóa của thời đại trước.

Ông còn kỳ công cho dựng cả một dãy phố Thăng Long ngày Tết với hoa đào, câu đối đỏ, bánh chưng xanh... rồi những quán nước ven đường đậm nét văn hóa Bắc Bộ xưa.

Xem Long Thành cầm giả ca như được xem lại hình ảnh của thời đại hàng trăm năm trước. Công sức hàng tháng trời lặn lội đi tìm bối cảnh từ Hội An, Ninh Bình đến Lạng Sơn, ra tận ải Chi Lăng của đạo diễn Đào Bá Sơn cũng đã mang về cho Long Thành cầm giả ca những thước phim đẹp đến nao lòng .

TIỂU QUYÊN .


Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Năm 9 23, 2010 6:55 am    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

ĐẦU XUÂN VIẾNG MỘ NGUYỄN DU .

Trong chuyến về miền Trung đầu xuân Kỷ Sửu chúng tôi lại giành thời gian đến Nghi Xuân, thắp nén nhang tưởng nhớ Danh nhân Văn hóa Thế giới, Đại Thi Hào Nguyễn Du.

Rời Quốc 1ộ 1A ở ngã ba Gia Lách, cách không xa Khu du lịch Sinh Thái ở đầu cầu phía Nam Bến Thủy, xe chúng tôi chạy dọc theo bờ hữu sông Lam khoảng 7 km. Mười phút sau, xe rẽ vào con đường nhựa nhỏ. Ngay bên trái là một khu nhà mái ngói đỏ tươi. Đây là "Khu lưu niệm Nguyễn Du".
Ba gian nhà khang trang xếp hình chữ U quanh một vuông sân. Trước sân là bức tượng lớn, màu đồng đen, đặt trên một bệ cao ngang đầu người. Pho tượng lớn hơn người thật, tạc hình một văn nhân thời xưa, khăn đóng áo dài, tay cầm bút lông, mặt trước bệ tượng có ghi dòng chữ: "Đại Thi Hào Nguyễn Du 1765 -1820".

Sau khi mua vé vào cửa, đoàn chúng tôi được một nữ hướng dẫn viên có khuôn mặt đẹp dịu dàng mà sang trọng, mái tóc huyền duyên dáng buộc tóm sau gáy, đưa đi thăm nhà lưu niệm và khu vườn, giới thiệu từng hiện vật, từng công trình, từng gốc cây, có bề dày lịch sử mấy trăm năm, gắn liền với cuộc đời của nhà thơ và dòng họ Nguyễn Tiên Điền.

Bên trái Khu nhà lưu niệm là một vườn cây sum suê bóng mát. Cảnh vườn thanh vắng, lối đi lát gạch, cổ kính và sạch sẽ. Trong vườn có ba ngôi nhà cổ, hai ngôi vừa, một ngôi khá lớn, nằm song song, nhà nọ cách nhà kia một khoảng sân. Hai ngôi nhà nhỏ là nhà Tư Văn và nhà Bảo Tàng. Ngôi nhà lớn hơn là nhà thờ.
Nhà Tư Văn là nơi hội họp để bình thơ văn.
Nhà Bảo tàng nguyên là đình chợ Trỗ trên Đức Thọ, được đưa đưa về đây năm 1963. Đình làm bằng gỗ mít trên 200 năm, tức cùng thời với Nguyễn Du. Trong Nhà Bảo tàng trưng bày một số tài liệu tranh ảnh minh họa các tác phẩm của Nguyễn Du, những kỷ vật của Đại Thi Hào như: Nghiên mực, đĩa mai hạc Nguyễn Du được tặng trong thời gian đi sứ, nậm và chén uống rượu, gạc nai treo áo, bản vẽ địa bàn đi săn.

Trước nhà thờ có tấm bảng đá ghi rõ: "Nhà thờ Nguyễn Du do Tiến Sĩ Nguyên Mai và Hội Khai Trí Tiến Đức xây dựng lại năm 1940".

Cô hướng dẫn viên đưa đoàn đi một vòng quanh khu vườn, chốc chốc dừng lại để giới thiệu :

Nguyễn Du được thừa hưởng những tố chất tinh hoa từ các cụ thân sinh. Thân phụ của Người là Nguyễn Nghiễm, một nhà nho hào hoa, phóng khoáng và uyên bác. Mẹ là Trần thị Tần, gốc người Bắc Ninh, một người đàn bà duyên dáng, giàu lòng nhân ái, say mê văn nghệ dân gian. Với dòng dõi xuất thân đó, cụ Tiên Điền đã thừa hưởng nguồn mạch của ba dòng văn hóa: Hà Tĩnh, Thăng Long và Kinh Bắc.
Gặp lúc thời cuộc đổi thay (từ triều Lê sang triều Nguyễn), gia thế suy sụp, người hay đau ốm, Nguyễn Du thường theo phường săn, lên núi Hồng Lĩnh, và theo dân chài ra khơi đánh cá. Cụ cũng tham dự những buổi hát ví hát dặm của trai gái trong vùng, đi vãn cảnh nhiều nơi... Phải chăng đây là thời kỳ cụ Nguyễn Du có cuộc sống phong phú nhất, chuẩn bị cho kiệt tác Truyện Kiều ra đời sau này.
Trong nhà chính của khu lưu niệm, có tập Truyện Kiều gồm 3250 câu, viết trên giấy khồ lớn (1,2m x 1,6m) theo lối thư pháp, nặng 75kg. Đây là công trình do Nguyệt Đình và 6 họa sĩ thực hiện tại Huế năm 2002, trong 6 tháng.
Bên cạnh có những bức tượng của Đại Thi Hào bằng thạch cao. Các tượng lớn nhỏ đều cùng một nét tạc, nhẹ nhàng thanh thoát, khảng khái mà hiền hòa. Nguyễn Du không có hình ảnh để lại, chính quyền tỉnh đã mở một cuộc thi tạc tượng, dựa theo ý của hai tập thơ: Thác Lời Trai Phường Nón và Sinh tế Trường Lưu Nhị Nữ Văn. Toàn quốc có 16 điêu khắc gia tham dự. Kết quả, tác phẩm của Lê Đình Bảo được chọn.

Cô hướng dẫn viên nói giọng Nghệ Tĩnh nhỏ nhẹ, trong như tiếng chim. Khi được hỏi, cô gái tự giới thiệu mình tên là Vân Huyền, hậu duệ đời thứ tám của Nguyễn Du.

Rời khu lưu niệm, chúng tôi lên xe đi chừng một km để đến viếng mộ Nguyễn Du. Trong khu lăng mộ có nhà bia, ngôi nhà mái ngói đỏ tươi, bốn cột to chắc, bia bằng đá xanh, cỡ 1mx2m, có dòng chữ "Danh nhân Văn hóa Thế giới - Đại Thi Hào Nguyễn Du". Phía sau là phần mộ, được ốp đá màu đen, nóc bằng, có chừa rảnh đất trống để cắm hương. Trang trí quanh mộ phần có hai cây thiên tuế trước nhà bia, hai cây tùng sau lưng mộ.
Trước khi rời nhà lưu niệm ra viếng mộ, tôi không quên mua một nậm rượu, làm bằng gốm, trên nền men trắng có bức họa hai chị em nàng Kiều, kèm theo hai câu thơ của Nguyễn Du:

Thêm nến gió, nối hương bình
Cùng nhau lại chuốc chén quỳnh giao hoan


Sau khi thắp hương tưởng nhớ trên phần mộ, tôi đã rót rượu để thỉnh nguyện hương hồn Đại Thi Hào về chứng giám lòng kính trọng và biết ơn của các thế hệ con cháu đối vời công lao to lớn của Người cho nền văn học nước nhà.

PHAN BẠCH CHÂU ĐANG KÍNH CẨN RÓT RƯỢU TRÊN LĂNG MỘ
ĐẠI THI HÀO DÂN TỘC NGUYỄN DU - NGÀY 18 THÁNG 2 NĂM 2009

Để có được phần mộ khang trang như hiện nay là cả một câu chuyện dài.
Nguyễn Du mất năm 1820, năm 1824 con trai ông là Nguyễn Ngũ cải táng mộ cha về xứ Đồng Mát, sau dời về xứ Đồng Thánh, đặt trong vườn nhà Nguyễn Du ở Tiên Điền. Nơi đây mỗi năm nước lụt ngập mộ nên mộ lại dời một lần nữa. Không mời được thầy địa lý, hai người cháu trong dòng họ Nguyễn đi tìm nơi đặt huyệt mộ bằng cách bưng một hương án, trên có nhang đèn và một con cò bằng gỗ. Hai người cứ đi, nơi nào con cò rơi xuống thì đó là nơi đặt mộ Nguyễn Du.
Qua đời ở tuổi 65, Cụ Tiên Điền có 18 người con với 3 bà vợ. Bà cả một con, bà hai một con, bà ba (thiếp) 16 con.

Ngôi mộ được sửa sang lại sau ngày có bài thơ của nhà thơ Vương Trọng. Một lần về thăm mộ Nguyễn Du, Vương Trọng thấy ngôi mộ của một Đại thi hào sao quá tiêu điều, nên đã làm một bài thơ với bốn câu mở đầu như sau”:

Tưởng rằng phận bạc Đạm Tiên,
Ngờ đâu cụ Nguyễn Tiên Điền nằm đây.
Ngẩng trời cao cúi đất dày.
Cắn môi tay nắm bàn tay của mình...
(Vương Trọng)


Bài thơ đăng lên mặt báo năm 1982 đã đánh động dư luận, từ giới văn học đến các cấp đến chính quyền và lan ra quần chúng. Sau nhiều cuộc hội thảo về mộ Nguyễn Du, mãi đến năm 1989, công trình xây dựng mới bắt đầu, với tổng kinh phí 6,4 tỷ đồng.

Chiều đã gần tàn trên khu vực nghĩa trang. Đứng bên mộ Người tôi đã đọc cho các bạn trong đoàn nghe bài thơ tôi viết khi về viếng mộ Nguyễn Du năm 2004.

VIẾNG MỘ NGUYỄN DU

Ghé về thăm Cụ hôm nay
Nén nhang con thắp khói bay trắng chiều
Thoảng nghe trong gió đìu hiu
Áng thơ bất hủ - Truyện Kiều - ngân nga
Hai trăm năm đã lùi xa
Chuyện xưa cụ kể vẫn là chuyện nay
Bức tranh đời dẫu đổi thay
Trắng đen vẫn ngổn ngang cày trang thơ
Lũ sai nha vẫn nhởn nhơ
Bao phận Kiều vẫn vật vờ phấn son
Hồ Tôn Hiến vẫn cầm cân
Từ Hải vẫn đứng chôn chân giữa vòng


Dòng đời có đục có trong
Nên thơ Cụ vẫn thong dong với đời.


Bất giác lại nhớ đến hai câu kết trong bài thơ được Nguyễn Du sáng tác sau khi đọc câu chuyện nàng Tiểu Thanh chép trong tình sử.

Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư
Chi phấn hữu thần liên tử hậu
Văn chương vô mệnh lụy phần dư
Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kỳ oan ngã tự cư
Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?


Ai đó đã dịch:

Hồ Tây vườn đã thành gò
Viếng nàng ta đọc tập thơ của nàng
Phấn son thuyền cũng bàng hoàng
Văn chương lụy kiếp tro tàn thế a?
Hận xưa khôn hỏi trời già
Nỗi oan phong vận mình ta buộc ràng.
Ba trăm năm lẻ mơ màng
Có ai hậu thế khóc chàng Tố Như?


Để hiểu bài thơ này của Nguyễn Du, xin nói qua thiên tình sử về nàng Tiểu Thanh.:

Tiểu Thanh sống vào đầu đời Minh, là một cô gái tài sắc vẹn toàn, nhưng cuộc đời và duyên số thật long đong. Nàng lấy lẽ một người đàn ông họ Phùng và bị vợ đầu cả ghen, buộc nàng phải ra ở riêng. Mỗi khi muốn gặp chồng phải được vợ cả cho phép, thư viết hỏi han chồng cũng phải được vợ cả xem trước. Cái ghen của người vợ cả ngày càng cay nghiệt, khiến Tiểu Thanh phải luôn cảnh giác, đề phòng cả việc có thể bị đầu độc bằng đồ ăn thức uống.
Nhà nàng ở cạnh Hồ Tây, thiếu bạn tri âm, nàng chỉ biết dùng thời gian để làm thơ thổ lộ lòng mình. Chẳng bao lâu, vì buồn bã, sức khỏe sa sút, Tiểu Thanh qua đời, để lại một tập thơ. Người chồng họ Phùng nhờ đọc tập thơ mà hiểu rõ tình cảm của nàng; chàng rất thương tiếc cho người vợ lẽ xấu số và tự trách mình. Tiểu Thanh chết rồi mà vợ cả vẫn ghen, đem đốt hết tập thơ của nàng. May sao còn sót lại một số bài, người ta gom lại, thành tập Phần dư cảo (Thơ đốt còn sót lại) để lại cho đời.

Nguyễn Du, với tấm lòng thương yêu rộng lớn không bờ bến của một bậc thi hào, đã viết lại tình sử của nàng Tiểu Thanh bằng thơ, có sức rung cảm lạ thường. Cái lụy là của người tài sắc, của nàng Tiểu Thanh (Tạo vật đố tài, tạo vật đố hồng nhan) là có cớ, nhưng văn chương vốn không mệnh mà cũng mắc lụy (Văn chương vô mệnh lụy phần dư) đến thế sao? Đó là dấu hỏi lớn của Nguyễn Du.
Từ đó, nhà thơ nghĩ đến mai sau:

“Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”
.

Và giờ đây, trên hai trăm năm đã trôi qua kể từ khi Nguyễn Du viết Truyện Kiều, tôi lại đến dâng rượu thỉnh nguyện Đại Thi Hào về chứng giám thế hệ cháu chắt vẫn luôn nhớ đến người!

Chúng tôi rời lăng mộ Nguyễn Du trong làn khói hương nhẹ lan theo gió, trong suy tư về kiếp phận con người, trong những trăn trở miên man về thời cuộc ngổn ngang bao dòng đục, dòng trong đan xen, hòa trộn...
Chiều đã tàn. Và ngày mai trời lại sáng.

Nghi Xuân - 18/2/2009
Phan Bạch Châu .


Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Ba 9 28, 2010 6:01 am    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này



Long thành cầm giả ca (chữ Hán: 龍城琴者歌) là bài thơ do Nguyễn Du (阮攸; 1765–1820) sáng tác trong quãng thời gian đi sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc) vào năm 1813 đến năm 1814. Bài thơ này cùng với Truyện Kiều, Điếu La thành ca giả, Độc Tiểu Thanh kí...được giới chuyên môn đánh giá là một thi phẩm bộc lộ rõ nét nỗi thương xót chân thành của tác giả về những kiếp người bất hạnh, nhất là những phụ nữ khổ đau, bị vùi dập trong xã hội thời phong kiến của Việt Nam ..

Long thành cầm giả ca (Bài ca về người gảy đàn ở Thăng Long) được xếp đầu tiên trong Bắc hành tạp lục (北行雜錄), gồm 131 bài thơ .

* Trong tập thơ chỉ có thi phẩm này và bài "Thăng Long" (gồm hai bài thơ ngắn), mang đề tài trên đất nước Việt Nam. Tất cả số còn lại, Nguyễn Du đều lấy những đề tài lịch sử và những điều tai nghe mắt thấy trên con đường đi sứ sang Trung Quốc trong khoảng thời gian đã ghi trên.

* Vô luận là người con hát La thành, Tiểu Thanh hay là người đánh đàn Nguyễn đất Long thành, họ đều là những người con gái có tài sắc và đều bị đánh vùi. Cũng như Thúy Kiều, những hình ảnh đó đều mang tính điển hình sâu sắc, phản ảnh hiện thực xã hội đương thời và đều đã tố cáo mạnh mẽ tính chất tàn nhẫn của xã hội đó .

* Thi phẩm được viết theo thể thơ “ca” và “hành”, hoặc gọi chung là “ca hành”.Giáo trình Hán Nôm tập II giải thích:

Đây là một thể thơ cổ, có nguồn gốc từ thơ Nhạc phủ đời Hán (Trung Quốc). Cổ Nhạc phủ có những bài như “Đoản ca hành”, Trường ca hành”, "Phụ bệnh hành"...Thông thường thì nó tường thuật một cảnh ngộ mà nhà thơ bất chợt nhìn thấy hoặc nghe kể lại, đồng thời nó nói lên những cảm nghĩ của nhà thơ trước tình cảnh đó. Nói gọn, thể “ca hành” đều dài, không hạn chế câu chữ, không cần niêm, đối chặt chẽ; và đều có tính tự sự, tính trữ tình ..

Ngoài Long thành cầm giả ca, Nguyễn Du còn viết Sở kiến hành theo thể thơ này.

Trích trong sách Thơ chữ Hán Nguyễn Du:

Trần Thị Tần (1740-1778), vợ quan Tư đồ Nguyễn Nghiễm (1708-1775), và là mẹ Nguyễn Du, sinh con trai đầu lòng lúc bà mới 17 tuổi. Sau bà còn có năm bà khác nữa, tuổi cũng xấp xỉ như nhau. Gia phả họ Nguyễn Tiên Điền tất nhiên không nói, nhưng rõ ràng các bà không phải xuất thân ca kỹ, thì cũng vì có chút nhan sắc mà trở thành nàng hầu của quan lớn họ Nguyễn trên.

Lại nữa, sau khi cha và mẹ đều mất, 13 tuổi, Nguyễn Du phải đến ở với người anh khác mẹ hơn mình 31 tuổi, đó là quan Tham Tụng Nguyễn Khản (1734-1786). Đời sống ông anh này có ảnh hưởng rất lớn đối với nhà thơ. Ông Khản thi đỗ sớm, làm quan to, lại là một con người tài hoa, phong lưu rất mực. Phạm Đình Hổ, tác giả Vũ trung tùy bút, chép:

Ông Nguyễn Khản ham thích hát xướng, gặp khi con hát tang trở, cũng cứ cho nó tiền bắt hát, không lúc nào bỏ tiếng tơ tiếng trúc. Khi ông có tang quan Tư đồ (tức Nguyễn Nghiễm), ngày rỗi cũng vẫn sai con hát đồ khúc gọi là “ngâm thơ nôm”. Bọn con em họ quí thích đều bắt chước chơi bời, hầu như thành thói quen.

Thuở nhỏ sống trong hoàn cảnh như vậy. Cái hoàn cảnh mà những người có chút nhan sắc hay có giọng hát hay, phải đem ra làm trò chơi cho kẻ quyền quí. Cho nên, trong nhiều tác phẩm của Nguyễn Du, như: Truyện Kiều, Văn chiêu hồn, Long thành cầm giả ca...khi nói về họ, ông đều có thái độ trìu mến, xót thương và xem họ như những người ruột thịt...

Trước 1975, trong Bảng lược đồ văn học Việt Nam có đoạn:

Từ xưa, người ta cứ cho rằng Nguyễn Du u uất vì mang mối tình với nhà Lê...Nhưng trong suốt sự nghiệp thơ văn chữ Hán của ông không có một nét nào cho thấy ông ghét Nguyễn, thương Lê cả. Ngay đến nhà Tây Sơn, Nguyễn Du còn chẳng tỏ vẻ gì thù ghét...mà còn đi ăn yến dự tiệc với các quan Tây Sơn như ông đã mô tả trong Long Thành cầm giả ca. Hơn thế nữa, khi Tây Sơn thất bại, Nguyễn Du còn cảm thấy đau đớn, tiếc thương...nhất là khi nhìn thấy tất cả cái cơ nghiệp vĩ đại của nhà Tây Sơn chỉ còn lại có mỗi một cô ca sĩ già, nhà thơ đã đau lòng để nước mắt rơi ướt áo...

Như vậy cái tâm sự thầm kín, u uất mà Nguyễn Du không biết nói với ai, hẳn không phải tấm lòng hoài Lê, mà phải là cái gì thắm thiết, gắn liền với thân phận ông hơn...

Từ điển văn học (bộ mới), xuất bản năm 2004, nêu ý tương tự:

Long thành cầm giả ca là tác phẩm viết về một con người tài hoa một thời, bây giờ nhan sắc tiều tụy, không còn ai chú ý đến nữa. Nhà thơ tỏ lòng xót thương ngậm ngùi của mình, và nghĩ đến cuộc đời dâu bể...Bài thơ mang một tinh thần nhân đạo cao cả. Nhưng nó có một khía cạnh rất đáng chú ý là chính trong bài này, lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất, Nguyễn Du nhắc đến nhà Tây Sơn. Thái độ của ông thế nào thật khó hiểu. Bài thơ không có tí gì gọi lả thù địch với Tây Sơn, mà trái lại, trong khi thương xót cho số phận của người ca nữ, nhà thơ lại có vẻ như ngậm ngùi cho sự sụp đổ của họ. Phải chăng đến giai đoạn này, do có nhiều thể nghiệm về cuộc sống, cho nên cách nhìn nhận của nhà thơ đối với triều đại trên có thay đổi gần với chân lý hơn?...

Ở bài Nguyễn Du và thế giới nhân vật của ông... còn nêu thêm một khía cạnh khác:

Trong Long thành cầm giả ca, Nguyễn Du đã kể lại hai lần gặp gỡ một cô đào hát tên Cầm. Và từ cái biến đổi “nhãn tiền” của cô, nước mắt nhà thơ đã ướt đẫm vạt áo:

Cơ nghiệp Tây Sơn tiêu tan sạch,
Trong làng múa hát còn sót lại một người!
Trăm năm thấm thoát trong một hơi thở một nháy mắt,
Cảm thương việc cũ lệ thấm áo...


Những giọt nước mắt kia, ngoài việc dành cho sự biến đổi chóng vánh của cuộc đời; nói rộng hơn và siêu hình hơn, theo giáo sư, nó còn dành cho nỗi buồn rầu về những gì “càng tài năng, càng thanh sắc” thì càng bị hủy diệt nhanh chóng. Và lúc bấy giờ, trong đầu Nguyễn Du, những lực lượng tàn phá mọi cái hay cái đẹp của xã hội chỉ có thể tổng quát thành "số mệnh", như số mệnh làm cho làm cho cơ nghiệp Tây Sơn sụp đổ... Sau này, ở bài Sở Bá Vương mộ, nhà thơ cũng đã đổ cho số mệnh:

Có sức mạnh dời núi nhắc vạc, nhưng trời không giúp thì làm thế nào?
Mối hận nghìn đời, đành gửi dưới lớp cát mỏng ...


Và cũng chính số mệnh đã vùi dập cuộc đời của Tiểu Thanh (Độc Tiểu Thanh ký), của Thúy Kiều - Từ Hải, hai nhân vật tiêu biểu nhất cho “tài và tình”...


Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng » Góc phố sưu tầm Thời gian được tính theo giờ EST (U.S./Canada)
Trang 1 trong tổng số 1 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Powered by SaoMaiDaNang © Nho'm SaoMai DaNang
Designed for SaoMaiDanang - Nam cuoi cung cua truong SAO MAI