Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng
Đăng Nhập Đăng ký Trợ giúp Thành viên Tìm kiếm Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng

TƯỜNG LINH và NHÁNH THƠ QUÊ HƯƠNG

 
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng » Góc phố sưu tầm
Xem chủ đề cũ hơn :: Xem chủ đề mới hơn  
Tác giả Thông điệp
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Hai Tháng 5 30, 2011 8:26 am    Tiêu đề: TƯỜNG LINH và NHÁNH THÆ  QUÊ HƯƠNG Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này




Thơ là văn bản ghi lại xúc cảm của con người trước ngoại cảnh. Cảnh sắc cùng tình huống trong đời sống, luôn luôn là chất liệu và hiện diện thường trực trong diện tích mỗi bài thơ, mỗi câu thơ. Người làm thơ tùy theo những rung động bắt gặp, để viết ra những gì mình đã cảm nhận được. Mức độ nhạy bén tùy theo từng tâm hồn. Khả năng diễn đạt tùy theo tài nghệ. Đề tài của thơ cũng giống như nhiều bộ môn nghệ thuật khác, nói chung là phong phú. Gần như người làm thơ nào, cũng đã thả lòng mình, thả ngòi bút của mình qua nhiều chủ đề khác nhau. Mức độ thành công ở mỗi chủ đề thường không đồng đều. Ở nhà thơ Tường Linh, hẳn nhiều người đồng ý, anh là một kiện tướng trong thơ tình-quê-hương. Một quê hương nồng nàn hơi thở Việt Nam nói chung, tình nghĩa thắm thiết Quảng Nam nói riêng.



Qua những thi phẩm đã ấn hành, khởi từ tập Nghìn Khuya, có mặt từ năm 1965, đến Thu Ơi, Từ Đó, Chung Dòng... cả trăm bài thơ của Tường Linh, gần như, đều có hương ruộng đồng, hương cỏ lá nông thôn, mặc dù anh cư ngụ tại phố thị gần suốt cả đời. Trong mỗi nguồn chữ viết của anh, như luôn luôn ẩn hiện những tàu cau, khóm chuối, những ao làng... cùng những hơi thở lam lũ, chân chất đậm mùi thuốc lá, chè xanh.

Điểm đặc biệt của Tường Linh và cũng là điểm chung của nhiều nhà thơ xứ Quảng Nam, rất dễ nhận ra. Đó là, thơ tình-quê-hương của họ, thường tỉ mỉ đi từ những nét riêng của vùng quê mình. Những tên sông, tên núi, tên làng xã, thậm chí đến những tên người thân yêu riêng tư, đều được họ tha thiết mang vào thơ. Những hình ảnh đã mục kích, đã bắt gặp, không thuần túy chỉ là kỷ niệm, mà đã trở thành những tế bào trong thơ họ. Tất cả những nguồn tạo ra xúc cảm ấy, sống chan hòa và hổ trợ nhau, giúp cho những câu thơ trở nên sống động. Cái hồn vía của câu thơ từ đó mà có.



Thơ tình-quê-hương hay gọn nhẹ hơn: thơ quê hương, là những bài viết dựa vào những địa danh, những kỷ niệm có từ một cảnh sắc nào đó mà thành hình. Hầu hết mọi tay thơ Việt Nam đều có viết qua. Mỗi người mỗi nét riêng. Những bài thơ về quê hương được xem là những bức họa, bức tranh, linh động hơn cả những tảng màu cụ thể. Xã hội Việt Nam vốn xuất phát từ nền tảng nông thôn, nên những bức tranh thơ trong kho văn học đang bảo quản, đa số lấy chất liệu từ những miền quê, trải dài từ bắc vào nam. Tính chất thuần hậu của người dân, cộng với cảnh sắc của thiên nhiên, đã thu hút những bàn tay thơ. Nhờ đó, góc thơ về quê hương rất phong phú.



Thơ quê hương có thể chia làm hai nhóm. Một nhóm nghiêng nhiều về tả cảnh. Tình người lồng trong bức họa, chỉ là một vài nét đơn giản, cụ thể như bài Cổng Làng của Bàng Bá Lân, bài Chợ Tết của Đoàn Văn Cừ, bài Làng Tôi của Vũ Quỳnh Bang. và nhiều bài khác của Nguyễn Bính, Anh Thơ vv... Năm khai sinh của ba bài tiêu biểu trích dưới đây khác biệt nhau. Nhưng nét chung, đặt nặng trong việc giới thiệu cảnh sắc, cảnh sinh hoạt, cuối cùng mới thòng thêm một chút cảm nghĩ riêng.



Những câu thơ trong một bài thơ, vốn là anh chị em cùng máu mủ, nên tôi không muốn có sự chia lìa. Hơn nữa tôi muốn trích trọn vẹn ba bài này, để bạn có thể dễ dàng kiểm nghiệm nhận xét trên của tôi. Hơi dài một chút. Nhưng đọc thêm một bài thơ là tăng thêm một niềm vui. Rước bạn:



chiều hôm đón mát cổng làng
gió hiu hiu đẩy mây vàng êm trôi
đồng quê vờn lượn chân trời
đường quê quanh quất bao người về thôn

sáng hồng lơ lửng mây son
mặt trời thức giấc, véo von chim chào
cổng làng rộng mở, ồn ào
nông phu lững thững đi vào nắng mai

trưa hè bóng lặng nắng oi
mái gà cục cục tìm mồi dắt con
cổng làng vài chị gái non
dừng chân uể oải chờ cơn gió nồm

những khi gió lạnh mưa buồn
cổng làng im ỉm bên đường lội trơn
nhưng khi trăng sáng chập chờn
kìa bao nhiêu bóng trên đường thướt tha

ngày mùa lúa chín thơm đưa...
rồi đông gầy chết, xuân chưa vội vàng
mừng xuân ngày hội cổng làng
là nơi chen chúc bao nàng ngây thơ

ngày nay dù ở nơi xa
nhưng khi về đến cây đa đầu làng
thì bao nhiêu cảnh mơ màng
hiện ra khi thoáng cổng làng trong tre

(Bàng Bá Lân - Tiếng Sáo Diều)

Dải mây trắng đỏ dần trên đỉnh núi
Sương hồng lam ôm ấp nóc nhà tranh
Trên con đường viền trắng mép đồi xanh
Người các ấp tưng bừng ra chợ Tết

Họ vui vẻ kéo hàng trên cỏ biếc
Những thằng cu áo đỏ chạy lon xon,
Vài cụ già chống gậy bước lom khom,
Cô yếm thắm che môi cười lặng lẽ.



Thằng em bé nép đầu bên yếm mẹ
Hai người thôn gánh lợn chạy đi đầu
Con bò vàng nghộ nghĩnh đuổi theo sau
Sương trắng giỏ đầu cành như giọt sữa.



Tia nắng tiá nháy hoài trong ruộng lúa
Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh
Đồi thoa son nằm dưới ánh bình minh
Người mua bán ra vào đầy cổng chợ



Con trâu đứng vờ dim hai mắt ngủ
Để lắng nghe người khách nói bô bô
Anh hàng tranh kĩu kịt quảy đôi bồ
Tìm đến chỗ đông người ngồi dọn bán



Một thày khóa gò lưng trên cánh phản
Tay mài nghiên hý hoáy viết thơ xuân
Cụ đồ nho dừng lại vuốt râu cằm
Miệng nhẩm đọc vài hàng câu đối đỏ



Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ
Nước thời gian gội tóc trắng phau phau
Chú hoa man đầu chít chiếc khăn nâu,
Ngồi xếp lại đống vàng trên mặt chiếu



Áo cụ lý bị người chen lấn kéo
Khăn trên đầu đương chít cũng bung ra
Lũ trẻ con mải ngắm bức tranh gà
Quên cả chị bên đường đang đứng gọi



Mấy cô gái ôm nhau cười rũ rượi
Cạnh anh chàng bán pháo dưới cây đa
Những mẹt cau đỏ chót tựa son pha
Thúng gạo nếp đong đầy như núi tuyết



Con gà trống màu thâm như cục tiết
Một người qua cầm cẳng dốc lên xem
Chợ tưng bừng như thế đến gần đêm
Khi chuông tối bên chùa văng vẳng đánh



Trên con đường đi các làng hẻo lánh
Những người quê lũ lượt trở ra về
Ánh dương vàng trên cỏ kéo lê thê
Lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ

(Đoàn Văn Cừ)

làng tôi nằm dựa ven sông
con đường đất đỏ ngăn dòng nước xanh
lối vào mấy khóm nhà tranh
bờ tre nhịp khúc yên lành từ xưa

rẩy mì nghiêng xuống vườn dưa
hàng cau nương bóng hàng dừa xanh xanh
trầu sang với mướp chung giàn
mạ xanh cùng với ngô vàng sớm trưa

cuộc đời sớm nắng chiều mưa
dòng sông vẫn chảy từ xưa đến giờ
dâu già đợi mãn mùa tơ
lúa ôm bờ cỏ nằm mơ thanh bình

dầu cho thế cuộc xoay vần
dân làng tôi vẫn làm lành với nhau
trao tay điếu thuốc miếng trầu
mối duyên ruộng cạn đồng sâu mấy mùa

dân làng tôi sống hiền từ
như khoai với sắn, như dừa với cau
bốn mùa cuốc bẫm cày sâu
đói no đắp đổi, sang giàu không ham

chợ chiều hẹn chuyến đò ngang
trai làng cùng với gái làng qua sông
ngập ngừng câu chuyện bông lông
hôm sau thành vợ thành chồng với nhau

ví dầu mấy cỗ trầu cau
gái làng tôi chẳng làm dâu xứ người
đã quen tiếng nói giọng cười
tình quê kết chặt duyên người yêu quê

dòng đời năm tháng không về
từ ngày giặc tới bờ tre tơi bời
vườn khoai rẩy sắn thôi tươi
và cô thôn nữ không cười trong nương

dân làng tản mác mười phương
xóm thôn hoang vắng, ruộng vườn xác xơ
tôi đi từ bấy đến giờ
đêm đêm tôi ngủ thường mơ thấy làng...

(Vũ Quỳnh Bang ,1952 - Tạp chí Bách Khoa, số 49 Sàigòn, ngày 15.01.1959)

Thơ Quê Hương thuộc nhóm thứ hai, phần giới thiệu cảnh sắc ít tỉ mỉ hơn, cái tình người được lồng vào những hình ảnh, mới là chủ yếu. Đa số những người làm thơ gốc Quảng Nam, trong đó có Tường Linh theo khuynh hướng này.





Tôi đã may mắn được đọc khá nhiều thơ Tường Linh đăng trên các tạp chí Bách Khoa, Mai, Phổ Thông, Tin Văn...và thật hạnh phúc được nghe thơ anh, từ ban Tao Đàn của đài Phát Thanh Quốc Gia (Việt Nam Cộng Hòa) qua các giọng ngâm truyền cảm, tuyệt vời: Hồ Điệp, Quách Đàm, Hoàng Thư, Thái Thủy, Tô Kiều Ngân, Hoàng Oanh...

Bài thơ đầu tiên, tôi mời bạn đọc dưới đây, mang tựa đề Quê Hương. Hai tiếng quê hương thường bao trùm tất cả mọi miền của đất nước. Có lẽ vì vậy, trong suốt bài, chúng ta không thấy Tường Linh, nêu lên một địa danh cụ thể nào. Điều này khá khác với thói quen của anh. Tuy vậy, bằng những nét tình ngậm ngùi, phủ lên từng hình ảnh, giúp chúng ta không khó nhận ra, mảnh đất nghèo khó miền Trung. Nơi vẫn còn cái nền nhà của người thi sĩ họ Nguyễn, trên con đất Trung Hạ, Trung Phước, Quế Sơn, Quảng Nam.



Ngoài ấy bây giờ chưa nắng lắm

Nhiều hoa gạo đỏ nở bên sông

Tháng giêng có tiếng chim tu hú

Khung biếc trời mai én lượn vòng



Mực nước vơi nhiều từ tháng chạp

Bờ sông hiện rõ bóng lau xanh

Nghiêng nghiêng bãi cát viền quê ngoại

Xóm bến dàn xa khuất lối quanh



Núi võ vàng mong ai nhớ ai

Tỉ tê lệ suối buồn đêm dài

Người đi từ mấy phương trời thẳm

Núi biết sao chia nỗi cảm hoài



Ngoài ấy giờ đây mùa gió mùa

Xiêu xiêu quán nhỏ bên đường trưa

Vườn cau của mẹ hoa cau rụng
Giọt sáng rơi dường giọt nước mưa



Nhà ta dựng lại trên nền cũ

Một bức tường rêu kỷ niệm mờ

Tường đứng mang linh hồn thuở trước

Chở che hai mái lá bây giờ



Bóng mẹ vào ra lối ngõ quen

Tóc sương dần xóa tóc màu đen

Nhớ con xa nhẩm lời kinh nguyện

Khuya nối nghìn khuya một ngọn dèn



Ngoài ấy... (nghe như xa cách lắm)

Mà thành xa cách cố hương ơi

Mỗi chiều ánh điện loang ngoài phố

Trông chuyến tàu ra lại ngậm ngùi...



Để giúp bài thơ quê hương, đứng vững với hơi thở lâu dài, có lẽ người làm thơ cần phải mát tay, thực hiện các việc tất yếu:

1. chọn hình ảnh thích hợp

2. từng có ít nhiều ràng buộc với hình ảnh, cảnh sắc để tình mình nương tựa

3. biết đặt cái tình vào hoàn cảnh đã hoặc đang xảy đến với không gian mình giới thiệu, nói đến.

4. cân nhắc và khéo léo trong việc chọn chữ

5. thông minh, linh hoạt trong sắp xếp ý tưởng

6. tạo ra hồn vía cho mỗi câu chữ. Biết tận dụng những xoàng xĩnh, tầm thường, vặt vảnh, và thổi vào đó cái hồn mến thương của mình, làm sao cho câu thơ có thịt da, có đời sống riêng.

Tôi đang trường kỳ tập làm thơ. Những căn bản sáng tác trên chỉ suy ra, sau khi đọc những bài thơ quê hương xuất sắc, trong đó, thơ của Tường Linh chiếm số nhiều. Giản dị vậy thôi, không dám ba hoa, làm khôn.



Cách đây khá lâu, vào một buổi tối, đi ăn cùng vài người bạn ở một quán người Việt, tại thành phố Toronto Canada. Chúng tôi tình cờ ngồi cạnh bàn một nhóm người đồng hương trung niên, đa số là đàn ông. Nhóm người này hình như là những người có tham gia vào sân chơi chữ nghĩa, hoặc ít ra họ rất sính văn thơ. Ngồi với bạn, nhưng tôi vẫn để tâm nghe lén.

Sau đề tài hội họa với cuộc triễn lãm không mấy thành công của họa sĩ Võ Đình tại Montréal, họ chuyển sang chuyện văn thơ. Tôi lắng nghe cách xưng hô, để mong nhận ra một vài danh xưng thường đọc. Rất may, đám người ấy gọi nhau với tên chữ đôi, nên tôi có cơ hội thấy mặt mũi các ông Hoàng Xuân Sơn, ông Song Thao, ông Hồ Đình Nghiêm, ông Võ Kỳ Điền...và nhiều người khác tôi đã gặp tên trên tạp chí Hợp Lưu, Thế Kỷ 21...

Trò nghe lén của tôi cuối cùng có một thu hoạch thú vị. Họa sĩ Võ Đình với mái tóc dài quá tai, đôi mắt kính khá dày, trọ trẻ giọng Huế, đề nghị một anh bạn trẻ hơn ngâm một bài thơ. Không khí bên bàn nhậu của họ thật sôi nổi, nhưng không ồn ào. Đêm cũng đã sắp chạm vào cái đỉnh đầu giờ Tý. Quán đã vắng khách. Giữa vài tiếng lẻ tẻ của những chiếc ly thủy tinh chạm nhau, không hiểu sao, tôi chợt rùng mình. Giọng ngâm thơ của người đàn ông mang tên Cường vang lên, rất lạ. Âm giọng rất Huế, rất Quảng Trị. Tôi không phân biệt được. Không tiếng sáo, tiếng đàn, nhưng giọng ngâm thật điêu luyện, càng lúc càng trôi nổi mênh mang.

Trước mắt tôi, trong lòng tôi, bềnh bồng hình bóng một người lưu lạc giang hồ, xa xứ đã lâu. Không biết hà cớ gì, anh chợt nhớ về một dòng sông. Sông lạch thì có miền nào tại Việt Nam thiếu mặt. Ngay cả Tiên Phước, núi non trùng điệp, cũng hiển hách một dòng sông Tiên, Tứ Hòa. Nước, gió, lau sậy, lục bình, trời mây, bờ bãi, con đò, cô lái thuyền... đại khái những hình ảnh đó, nuôi sống mãi những dòng sông. Nhưng hình như dòng sông, qua lời thơ đang bay có một chút gì khác biệt.

Không khác sao được, khi dòng sông của người thơ có đôi bờ đất mật, với những triền xanh, gành xám, bãi vàng. Chen chúc trên những tảng màu thơm ấy là những tên làng, tên xóm, không gọi mà vẫn nghe. Và lạ lùng, không nhìn mà vẫn thấy hai ngã của nguồn nước, nằm chung một lòng sông. Rồi khúc cạn, khúc sâu, phía lở, phía bồi cứ chập chờn hiện ra. Làm sao có thể không nhớ bóng dáng cái ổ tình một thời, đứng giữa những xiêu vẹo của cỏ cây. Từ những mùa trở gió bất nồm, con người xa xứ lâu năm, nhặt đầy tay mình những kỷ niệm. Con diều, con cá, con chim... rồi đến những dấu tích đáng buồn mở ra cuộc đời ly loạn.

Bài thơ giàu hình ảnh. Mỗi hình ảnh lấp lánh những ân tình. Tôi tưởng chừng hụt hơi khi cố bám theo giọng ngâm. Từng chữ, từng câu, từng vần điệu đã nuôi thơm giọng trầm ấm của người diễn đạt. Tôi liếc nhìn những đôi mắt lơ mơ nhắm ở phía bàn bên cạnh, chợt nhớ một câu thơ đã đọc. “Quê hương nhắm mắt nhừ sờ được” (Luân Hoán). Và chợt tưởng như mình cũng đang chạm vào những nong tằm, những bãi dâu, bãi bắp, cả những bàn chân tuổi thơ .

Dòng sông của tác giả, dù có tên là Thu Bồn hay không, dù nó có chảy trên con đất Quảng Nam hay không, qua thơ, tôi như tìm được những báu vật, những di sản của mình. “Thơ Dài Như Dòng Sông”, năm chữ của nhà thơ Triều Hoa Đại, dùng làm đề cho bài đối thoại giữa anh và người bạn thơ, thật thích hợp để mượn, gọi tên bài thơ tôi đang được nghe. Thơ đẹp và buồn nhưng vẫn ánh lên những thao thức, hy vọng. Bất tài không chuyển nổi bài thơ thành văn xuôi, tôi đành mời bạn cùng tôi, đọc lại tâm tình nhớ về một dòng sông quê nhà của Tường Linh. Bài thơ mang tên “Dòng Nhớ Thương Chảy Mãi Qua Hồn”



Tôi nghĩ về một dòng sông

dòng sông quê hương có đôi bờ đất mật

có những tên làng tôi yêu mến nhất

có triền xanh, gành xám, bãi vàng

những hàng cừ xe gió nước reo vang

những thác xiết nhọc nhằn thuyền lên ngược

nguồn hai ngã, lòng sông chung guồng nước

khúc cạn, khúc sâu, phía lở, phía bồi

sông Thu Bồn thương nhớ của ta ơi



nhà tôi ở bên bờ sông đó

mùa bấc, mùa nồm sông lồng lộng gió

hàng tre, vườn chuối xiêu xiêu

chiều nhẹ nâng cao vút cánh diều

nắng phớt lưng sườn núi tím

tháng tám nguồn về trái bòn bon ngọt lịm

ghe biển đưa lên con nục, con sòng

bè gỗ lềnh bềnh, đủng đỉnh xuôi sông

trên bãi sớm, bủa tằm nghiêng hứng nắng

điệu hát chèo ghe trong đêm bình lặng

tỏa ân tình thêm mát ánh trăng khuya

một thuở đao binh

nguồn, biển chia lìa

sông cau mặt vì bóng cờ ba sắc

ròng rã chín năm, nước sông hòa nước mắt

dòng thương đau đưa tiễn những thây người

sông hiền lành chuyển động, sóng trào sôi

người đứng dậy giành những gì sắp mất

lửa tiếp lửa, lửa tràn lan, cao ngất

tro đồn Tây xám xịt nước sông thơ

tay chị, tay anh giữ vững đôi bờ

dâu bát ngát, lô xô cờ bắp trắng

sông lấp lánh một trời mai đẹp nắng

buồm gió căng lên, phơi phới giọng hò

ngấn lệ mừng trên mặt mẹ chưa khô

chưa cào hết vụn bê tông đồn giặc

trên đôi bờ sông

để tìm lại đất

cho tay người tái tạo những mùa xanh

trời quê hương lại ngút lửa chiến tranh

bờ sông xẻ thành hào ngang, lũy dọc

măng vừa nhú, mảnh gang lìa sát gốc

cau rạp mình, la liệt xác ngàn dâu

những rặng thùy dương trụi lá, cụt đầu

nguồn tới biển: hai vành đai trắng !

tiếng dệt cửi từ lâu im vắng

về đâu người em gái Duyên Xuyên?

có nhớ sông quê hãy phác lời nguồn

với bông vải Ba Châu

với nong tằm, bủa kén

với bắp, với dâu, với mùa nước hẹn

tất cả vươn lên góp lửa nhiệt thành

trả lại dòng sông, trả lại cho anh

từng vết bàn chân trên cát vàng tuổi nhỏ

ai có về bên bờ sông đó

đếm giùm tôi bao bến nước vắng thuyền

còn sót đọt tre nào chấm mặt thủy triều lên

mấy độ trăng tròn, trăng khuyết

dòng sông trôi, dòng sông trôi biền biệt

dòng nhớ thương chảy mãi qua hồn

ơi Thu Bồn, tôi biết nói gì hơn

(tạp chí Tin Văn 1966)



Sông Thu Bồn có lưu vực rộng đến 10.350 cây số vuông, nguồn bắt đầu từ núi Ngọc Linh (cao 2.598 mét) thuộc huyện Trà My đổ ra biển Cửa Đại, sau khi chảy qua các quận, huyện Tiên Phước, Quế Sơn, Đại Lộc, Duy Xuyên, Điện Bàn, Hội An. Những địa danh vốn từng sống lộng lẫy, trong nguồn thi ca của những người làm thơ xứ Quảng.

Sông Thu Bồn mang đến cho người dân Quảng Nam, những nguồn lợi, những tự hào và cả những đau thương. Tôi không rõ có bao nhiêu nhà thơ đã trải lòng ra cùng dòng sông này. Riêng nhà thơ Tường Linh, ngoài bài trích dẫn trên, dòng sông còn cư ngụ trên rất nhiều dòng thơ của anh. Năm 1964, gia đình Tường Linh định cư tại Gia Định Sài Gòn, anh nhận được tin bão lụt tại quê nhà. Dù chẳng phải vì cơm áo, Tường Linh cũng bất lực, chỉ đành gói nỗi lo buồn của mình vào những dòng thơ:

Nhà tôi ở bên sông trống gió
Mái lá đơn sơ, cột gỗ gầy
Mùa bấc bếp chiều không lửa đỏ
Trưa nồm trở mạnh vách lung lay

Năm năm, mỗi độ đông vừa chớm
Xóm dưới làng trên ngại lụt nhiều
Dòng nước Thu Bồn thành nỗi sợ
Khi rừng xa vọng thác vang reo

Mưa… những tuần mưa nối tiếp nhau
Đôi bờ sông lớn nước dâng mau
Nước dâng ngờm ngợp, trôi cuồn cuộn
Nước ngập gần xa trắng một màu

Đồng lúa, vườn cây nước xóa nhanh
Nước xô nhà ngói, cuốn nhà tranh
Nước ngâm cỏ chết, trâu bò đói
Bốn hướng trời không chút nắng hanh

Người ở miền Trung mùa lụt tới
Nhắc nhau câu chuyện “bão năm Thìn”
Năm nay lại cũng năm Thìn nữa
Lụt đã tràn dâng, bão đã lên!

Bão đã lên, ơi xứ ta nghèo
Ai ra ngoài nớ gởi sầu theo
Có bao nhà đổ, bao người chết
Bao lúa, khoai, ngô... hóa bọt bèo!

Nhà tôi ở đó mong manh lắm
Tay mẹ làm sao chống gió cuồng?
Con ở phương Nam chiều vẫn ấm
Mà lòng như có nước sông tuôn...

Sài Gòn 18-9-1964 (Giáp Thìn)

Ngôn ngữ, vần điệu, chưa đủ vực dậy tinh thần suy sụp của người con xa xứ, Tường Linh thấy còn cần phải tiếp tục vịn vào thi ca. Và thảm cảnh trận lụt ngày 9-11-1964 (mùng 6 táng 10 âm lịch), đã được anh nhìn thấy từ trái tim bằng những nét rõ ràng, chua xót hơn:



“... sáu mươi năm lại đến ‘họa năm thìn’

thảm nạn này biết thuở nào quên

biết thuở nào quên !

một tối nước lên, nước tràn lên khủng khiếp

cả trăm người, cả ngàn người không chạy kịp

nước réo ầm ầm át tiếng kêu la

chới với ngửa nghiêng, người cuốn theo nhà

nhà theo sóng, người không thấy nữa

nhìn con trôi, mắt cha máu ứa

nhoai lên, tay vợ níu lưng chồng

rồi hai người thành hai xác giữa mênh mông...”



Dù vô cảm đến đâu, cũng có thể hình dung một cách dễ dàng, sự hung hãn điên cuồng của dòng nước bạc. Đêm tối, nước lên...ầm ầm thô bạo. Chảy, cuốn, vùi dập. chới với ngửa nghiêng, người cuốn theo nhà liên tục, vội vã. Chúng ta phải làm gì trong cương vị người cha, ngoài chuyện ứa máu mắt, quýnh quáng trong bất lực ? Từ con người chuyển sang thây xác thật dễ dàng mau lẹ. Thảm kịch cảnh xảy ra, được thuật lại như những thước phim linh động nhất và dài đến vô cùng. Tường Linh đã làm cho đồng bào cả nước rúng động, chết lặng. Tính chất xác thực, không cường điệu, cộng theo cách diễn tả, tài dùng chữ của anh giúp chúng ta thấy rõ từng góc cạnh của thiên tai, của nỗi khốn khổ của người dân miềm Trung:

“... cây nước tràn lên – cây nước phủ đầu

một “dây xác” trôi về đâu ai biết...”

Con sông không còn là dòng. Nước không còn là giọt, là sợi, hay một hình ảnh mền mại nào khác, mang bản chất của nó, mà chợt trở thành một cây, hình ảnh một thứ vũ khí. Để tạo ra người này ngột hơi, tiếp liền người kia mất dưỡng khí, nối liền nhau thành “một dây” xác.

Trận lụt năm Thìn, có lẽ vẫn đang giữa kỷ lục mức tàn phá và tàn bạo nhất của thiên nhiên trên đất nước Việt Nam. Trận lụt mà dân địa phương cho rằng nước đã nhậm chìm hòn núi Kẽm và làm xê dịch tảng đá Dừng, để chen vào giữa cuốn phăng phăng bao nhiêu sinh mạng. Riêng làng Đông An, Quế Phương Quế Sơn đã mất 1.700 người. Trong số 19 dân làng còn sống sót, không biết, về sau có ai đọc được bài thơ Thảm Nạn Quê Hương của Tường Linh ?



Nhìn ngắm, suy ngẫm rồi phóng bút theo xúc cảm, Tường Linh đã bao giờ bắt gặp những nét đẹp bình an ở nơi chôn-nhau-cắt-rún ? Tuy không nhiều lắm, nhưng cũng có đó, thưa bạn. Theo chân người thương binh trở về thăm nguyên quán, Tường Linh dung dị trong những nét thanh bình:

“... quê hương anh

mây giăng đèo Hải

chiều ấu thơ êm ả câu hò

nước mấy nguồn sông hẹn về Cửa Đại

Ngũ Hành Sơn năm cụm núi xanh lơ



anh lớn lên giữa bài ca châu thổ

những mùa thu ngọt trái Nam Trân

biển xa lộng gió

thuyền lưới đầy khoang cá trắng ngần

...

cha mẹ chỉ tay thề với núi

- mỗi ngón tay ngang một cụm Ngũ Hành

năm cụm núi không thể nào thiếu một

năm ngón tay không thể chia lìa

lời mẹ đều đều, sương rụng vườn khuya...

anh ra đi từ mùa thu bốc lửa

...

không theo về bàn tay năm ngón

nhưng về theo anh nghìn chiến công

về theo anh vẫn đầy mấy ngọn

mùa chim vui ca, cá trắng, cam hồng

anh nhìn núi Ngũ Hành năm cụm

màu núi thêm xanh

mất bàn tay, còn quê hương thắm thiết

mỗi ngón tay dâng một cụm Ngũ Hành

niềm vui hiện tại

bếp ấm ân tình

anh viết thư cho người yêu bằng tay trái

đời vẫn xanh và núi vẫn xanh

(Năm Cụm Núi Quê Hương)



Thú thật, hơn ba mươi năm về trước, khi được đọc bài thơ này, tôi đã ứa nước mắt. Lệ tràn ra không phải vì thương cảm người chiến binh, mà bất ngờ cảm thấy hạnh phúc, khi tưởng mình trong vai người thương binh của anh Tường Linh. Thật không ngờ... “từng hẹn cùng về như kẻ hành hương/ thua nhẵn tuổi hoa giữa sòng nhân thế...- TL”





Nhan sắc Quảng Nam trong thơ Tường Linh, quả thật không cụ thể bằng những nét thơ Vũ Quỳng Bang, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân... Còn nhân ảnh, tâm tình của đồng bào ruột thịt, anh phác họa thế nào ?



“... men xuân vui rào rạt đến bao giờ

âm điệu cũ tuôn qua hồn bỏ ngỏ

thảm lúa xanh rờn trên quê ta đó

mầm tương lai ghim thớ đất hồi sinh

cánh đồng quen như cánh tay mình

bè bạn, anh em bao người gửi máu

máu đã phai, hố bom không còn dấu

đợi mùa vàng mong được chút nguôi quên

chịu ơn người, đâu dễ kể từng tên

nhiều tha thiết, không đủ lời để tỏ...”



“...Trời vẫn cứ xanh, trăng vẫn sáng

Đêm thanh bình lúa nếp hong sương

Thế hệ già ngân mãi điệu quê hương

Thế hệ trẻ uống từng lời sữa ngọt

Tiếng hát truyền lưu, thiết tha, cao vút

Cầu tre, lối sỏi mấy kẻ đi về

Hẹn mùa xuân trầu cau, cheo cưới

Đất Tự do ngọt bưởi, thơm hồng

Nắng hạ, mưa đông

Bóng núi, giòng sông

Của chồng, công vợ

Hát thương, hát nhớ
Lời vắn, tình dài

Ơi những người mặc áo vá vai
Những chàng trai tuổi cằn công nợ

Những cô gái duyên tình dang dở

Những mảnh đời đói rách, long đong...”

(Dân Ca)



Quảng Nam không phải là tỉnh duy nhất của miền Trung. Nhưng nhắc đến mùa hè thiếu ăn, mùa đông thiếu áo, người dân hai miền bắc nam thường nghĩ ngay đến đất Quảng Nam. Một con đất sinh sản rất nhiều hào kiệt trong nhiều lãnh vực chính trị, quân sự, văn hóa... Để nhìn nhận cái yếu kém về kinh tế của xứ sở mình, Tường Linh vẽ hẳn ra thơ:

“... đất Quảng thân yêu, một thời tuổi nhỏ

mẹ thèm cơm, con thiếu áo long đong

nhà bên sông năm tháng nước xuôi dòng

vách nứa lung lay trưa nồm gió mạnh

bếp lửa sàn khó ngăn chiều bấc lạnh

chiếu chăn nào xua nổi rét khuya đông

bao mồ hôi cha mẹ tưới trên đồng

thân lúa vẫn như thân người thiếu máu

...

tôi trở lại với niềm đau cố xứ

bến sông chiều Vĩnh Điện hắt hiu mưa

muốn đi lên nhưng súng vọng đôi bờ

nguồn với biển trở thành xa cách quá...”

(Vọng Tình Chim)



Nét họa trong nét chữ chân chất của Tường Linh, đã làm nhà văn Võ Phiến phải ngạc nhiên lẫn thích thú:

“...Tường Linh nói thế nào mà cảnh nghèo gần thành một cảnh thi vị, đáng yêu... một cảnh dễ chịu quá...”

Sự bình thản lẫn lộn chút ít tự hào, khi Tường Linh nói về quê cha đất tổ của mình có lẽ do tình yêu làng quê của anh. Đây cũng là nhận xét của nhà văn Võ Phiến. Tác Giả Văn Học Miền Nam viết cặn kẽ hơn:

“... Nhớ làng mạc, gốc gác thì chắc ai cũng có nhớ. Nhưng hiếm người nhớ quê như Tường Linh nhớ làng Trung Phước (họa chăng có thêm Tạ Ký, bạn ông).

Có lần (hồi 1965) Tường Linh đoạt giải thưởng Bút Việt nhờ một thiên truyện ngắn đề là “Làng”. Đó là truyện một người, một ông lão mê làng, tha thiết say sưa với làng mình, dù chiến tranh khiến phải xiêu bạt về đâu ông lão cũng hướng tất cả tâm hồn về làng xưa. Sức thu hút của làng trong trường hợp này có phảng phất chút gì thần bí.

Cái làng ấy trong truyện, Tường Linh không gọi hẳn tên ra, mà cũng không giấu hẳn tên đi, không dùng một tên bịa đặt nào để xóa lấp nó. Ông ghi tắt là làng Tr.P....

...

Trong thế giới nhân vật giả tưởng, chỉ được biết có ông Tư Xích Lô mê làng Trung Phước. Ngoài đời, trong thế giới văn nhân thi sĩ, chúng ta bắt gặp ít nhất hai người: Tường Linh và Tạ Ký...”

Trong 6 sáu trang viết về Tường Linh, trước khi giới thiệu tiêu biểu bốn bài: Vọng Tình Chim, Gặp Lại Vũ Hữu Định, Trời Xưa Áo Lục, Giòng Nhớ Thương Chảy Mãi Qua Hồn. Nhà văn Võ Phiến đã đặc biệt nói về con người Tường Linh. Xin được phép trích dẫn, để trình diện một chút Tường Linh cùng bạn đọc:

“... Thời cuộc bắt người thanh niên hiền lành nọ phải làm lính. Thì làm lính. Nhưng Tường Linh là thứ lính miễn cưỡng, yếu xìu. Nghe ông nói chuyện đánh nhau mà ngán ngẩm. Không phải ông ngờ vực chính nghĩa, hay ông non gan run sợ, hay ông thấm đạo vô vi. Không phải thế.

...

Tường Linh thì ông là người lính thích quanh quẩn bên... mẹ già, thích nhấm nháp lai rai, tụ tập bạn bè, thích loanh quanh chỗ xóm làng, cảnh sống yên lành, thỉnh thoảng làm dăm ba câu thơ. Giữa thời bom nguyên tử, khi bất đắc dĩ phải nói tới chiến tranh thì ông thích chuyện... mài kiếm dươi trăng... (Trời Xưa Áo LụcSmile”



Với một người chân chất, hiền lành cục bột, Tường Linh không chỉ “mê làng”, mà còn mê cả thơ. Chẳng phải “thỉnh thoảng làm dăm ba câu”, tôi nghĩ, anh đã làm thơ, hoặc nghĩ về thơ hằng ngày. Ngoài cái tình dành cho Trung Phước, dành cho Quảng Nam, Tường Linh còn cho phép tâm hồn mình ở đậu trên nhiều vùng đất khác. Tỉ như với Huế, nơi anh từng trọ học, từng yêu và thất tình, anh không quên dành những dòng nhớ thương:



“... tôi nhớ về đất Huế xinh xinh

có người em nghiêng nghiêng vành nón lá

áo tím, áo lam rập rờn nắng hạ

em hiền lành như dáng trúc Kim Long

An cựu triền miên nắng đục mưa trong

chùa văng vẳng tiếng chuông chùa Thiên Mụ

dòng Hương giang ngày nay, chuyện cũ

duyên nào trao qua mấy nhịp Tràng Tiền

những bình minh chấp chới cánh chim hiền

ai nỡ cấm thơ ca tình Vỹ Dạ ?

trang ký ức giờ đây còn rõ quá

những chiều buồn bước ngược dốc Nam Dao

ngày tôi đi đường rải xác hoa đào

ai thỏ thẻ: trông anh ngày trở lại...”

(Hai Miền Thương)



Và con đất miền Nam, nơi dung nạp gần trọn đời đã thành danh, thành gia thất của nhà thơ, anh ghi lại:

“... tôi yêu miền Nam

yêu những cánh đồng cò bay mỏi cánh

yêu những dòng sông chở nặng phù sa

buổi sơ giao quen điệu lý Biên Hòa

ngọt ngào duyên xứ bưởi

bến Sài Gòn gió chiều vời vợi

ai ngóng chờ ai bên Thủ Thiêm

đường về Hóc Môn Bà Điểm quê em

xinh xinh dáng rúc

ao cá đêm thanh mảnh nguyệt chìm

tôi rời Sài Gòn, như một cánh chim

tình Hậu Giang ngọt lắm

ước có nhiều lá thắm

đề thơ mà thả xuôi dòng

lá sẽ dừng trăm bến nước Cửu Long

lời thăm hỏi trao người chưa biết mặt

quê bạn Sóc Trăng mùa đông không gió bấc

nắng hanh vàng cho lúa trổ đòng tơ

chiều vơi, sóng lúa không bờ

có chàng thi sĩ làm thơ, đợi mùa

xa Trà Vinh nhớ dưa hấu đỏ

(sau về trung biết có hay không ?)

Vĩnh Long măng cụt rám hồng

sữa căng vú sữa, hương nồng sầu riêng

tóc bồng gội gió Hà Tiên

còn xe lục tỉnh, còn duyên, còn người

phù sa lúa tốt, vui đời

sáu câu vọng cổ chở lời hoài hương

miền nam không nhớ mà thương

chim xa ấm nắng chung vườn quê Nam

(1958 – Chung Dòng)



Giới thiệu thơ, chỉ là cách nói để tránh hai chữ có tầm vóc: đọc thơ. Công việc này quả thật nằm ngoài khả năng của tôi. Biết vậy, nhưng vẫn thực hiện chỉ vì lòng yêu thơ. Hy vọng sẽ có rất nhiều bạn, vui vẻ đi bên cạnh nhắc nhở, hướng dẫn.

Trong chủ đề Tường Linh và nhánh thơ Quê Hương, tôi cũng đã bỏ sót khá nhiều điểm son của anh. Khó khăn này, mong thông cảm, bởi chính những người quen tay đãi sạn tìm vàng cỡ Võ Phiếm cũng đã than:

“ Chọn thơ Tường Linh quả khó, chọn bài này e mất lòng bài kia. Đại khái suýt soát nhau” . Lời tình thật này, được Võ Phiến ghi chú vào tháng 10 năm 1986 (Văn Học Miền Nam – thơ). Hai mươi hai năm sau, nhà biên khảo Nguyễn Q.Thắng, trong bộ Văn Học Miền Nam Nơi Miền Đất Mới (5.600 trang) cũng bày tỏ tương tự:

“... Thơ Tường Linh - phần lớn – bài nào cũng như bài nào, tuyển nhiều càng tốt, không bài nào đáng bỏ, vì chọn thi đề này e làm thất vọng bài kia...”

Giữa ông Phiến và ông Thắng thật ra có ít nhiều khác biệt khi đánh giá thơ Tường Linh. Tác giả Văn Học Miền Nam, có một nhận xét chung về hai nhà thơ đất Trung Phước, Quế Sơn, Quảng Nam, Tường Linh và Tạ Ký:

“... Cả hai thi sĩ, họ buồn cái buồn của người Việt trung bình, đau cái đau của người Việt trung bình. Làm thơ, họ thường sử dụng những luật quen thuộc, thông dụng. Thơ họ không xuất sắc, cũng không làm bừa bãi”

Với ông Nguyễn Q. Thắng, chắc các bạn chỉ cần đọc lại câu đã trích trên.



Trước năm 1975, những cảm nhận đánh giá về nhánh thơ Quê hương của Tường Linh, có khá nhiều . Rất tiếc, thiếu tài liệu dẫn chứng đầy đủ, tôi chỉ xin trích một số nhỏ, tìm được:

“... Tường Linh đã dùng tâm thành để trở về với quê hương với đất mầu nội cỏ và đơn sơ mộc mạc của ca dao. Ông là một trong vài ba nhà thơ hôm nay đã đưa nguồn thi hứng về quê hương nên tiếng thơ ông đã tỏa ngát niềm trong sáng của ca dao và nỗi buồn mênh mang trên xứ sở cùng sự cơ hàn của thân phận...

... Tường Linh đã lựa chọn một môi trường rất thích hợp với thể chất của thơ ông vốn đầu thai từ những điệu buồn man mác - nếu có vui thì nguồn vui cũng chỉ thoáng qua

... Tìm đến cái đẹp trong thơ Tường Linh chỉ có thể tìm trong những bài thoảng lời ca quê hương với nhịp sáu tám. Trong loại thơ này, Tường Linh quả là một thi nhân có tâm hồn thơ bén nhậy, thiết tha” (VHHĐ trang 180 và 183)

Trước khi kết thúc bài viết về Tường Linh trong cuốn Văn Học Hiện Đại – Thi ca và Thi nhân, nhà biên khảo, Cao Thế Dung có trích thêm bài Hồn Nhỏ Chim Linh sau đây:



con chim từ buổi xa ngàn

nằm ngơ giữa mọi thiên đàng chưa quen

lối về núi tiếp non chen

phương tây rừng rực chiều nhen lửa chiều

nghìn khuya chiêm chiếp chim kêu

tiếng sương khắc khoải lạc chiều chân âm

bỗng dưng cát mịt bụi lầm

mưa phong vũ ngắt bao mầm xuân sơ

chim non xõa cánh bơ phờ

chiều mây xuống thấp mưa mờ không gian

(Nghìn Khuya)



Tôi có chút thắc mắc ... “... Tìm đến cái đẹp trong thơ Tường Linh chỉ có thể tìm trong những bài thoảng lời ca quê hương với nhịp sáu tám...” như vậy, với những nhịp bảy chữ, tám chữ... nhánh thơ quê hương của Tường Linh chưa đủ đẹp. Tường Linh có những câu lục bát xinh xắn, nhưng đa số thơ làm nên tuổi Tường Linh, nằm ở những thể loại khác sáu tám, với nội dung quê hương. Điều này tưởng không cần phải trích dẫn thêm.



Đồng hành với Cao Thế Dung còn có Trần Tuấn Kiệt, Uyên Thao, Phan Thanh... Tác giả của Triền Miên Ngâm Khúc, đưa nhận xét của mình về Tường Linh, trong cuốn Thi Ca Việt Nam Hiện Đại, viết về giai đoạn 1880 – 1965:

“... Nỗi buồn trong thơ anh không là nỗi buồn bi đát của thanh niên hôm nay mà là nỗi buồn thăm thẳm của quê hương, nỗi buồn đó là nguồn sống của dân tộc chúng ta cần phải có. Trong cái buồn có niềm hy vọng, ánh nắng tươi, có hoa cỏ, có sông núi, có tình người. Anh thi sĩ ở chỗ đó.”

(Trần Tuấn Kiệt)



Gần đây, sau 1975, tôi tìm thấy từ mặt hình máy vi tính, vài cảm nghĩ về Tường Linh:

“... Thơ Tường Linh ra đi từ gốc rạ, để cuối cùng quay về lại với gốc rạ, trở thành máu thịt của quê hương”

(nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ)



“... Hóa ra chú Linh, tức là nhà thơ Tường Linh rất nổi tiếng trên văn đàn miền nam. Thơ về quê hương, trong tôi ông là số một. Số hai, số ba, số bốn, tôi chưa biết ai. Nhưng số năm mới đến ông gì ở Khánh Hòa có bài quê hương được đưa lên chiếu trên liền. Thơ Tường Linh giản dị như lời nói người nhà quê nói ra, chẳng có chi uốn éo lươn lẹo trong tâm tình chữ nghĩa. Đọc xong thấy rất gần. Chẳng chữ nào mang nhà họ Giả trong Hồng Lâu Mộng...”

(Lê Minh Sơn)



Người giới thiệu thơ, đọc thơ, chắc chắn phải có trách nhiệm công bố những nhận xét riêng của mình. Tôi xin thi hành đúng luật bất thành văn: Thơ hay là thơ đến và ở được lâu dài trong lòng người đọc. Người đọc tôi muốn nói ở đây là người-Việt-trung- bình của nhà văn Võ Phiến. Và Tường Linh là chủ nhân của một số thơ như thế. Mong các bạn bỏ phiếu đồng thuận nhận xét chân tình của tôi.



Hà Khánh Quân

18giờ 43, ngày 01-9-2009













Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng » Góc phố sưu tầm Thời gian được tính theo giờ EST (U.S./Canada)
Trang 1 trong tổng số 1 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Powered by SaoMaiDaNang © Nho'm SaoMai DaNang
Designed for SaoMaiDanang - Nam cuoi cung cua truong SAO MAI