Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng
Đăng Nhập Đăng ký Trợ giúp Thành viên Tìm kiếm Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng

Vua Lý Công Uẩn và tầm nhìn THĂNG LONG

 
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng » Góc phố sưu tầm
Xem chủ đề cũ hơn :: Xem chủ đề mới hơn  
Tác giả Thông điệp
Toc Trang
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 10 6 2008
Số bài: 1767

Bài gửiGửi: Ba 1 17, 2012 11:45 am    Tiêu đề: Vua Lý Công Uẩn và tầm nhìn THÄ‚NG LONG Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này


Đọc qua lịch sử Việt Nam nhận thấy tinh thần Phật Giáo rất thịnh hành và phổ biến trong nhân gian gây thành học phong hai triều Lý, Trần.
Có thể nói trong thời nhà Lý, Phật Giaó đã trở thành Quốc Đạo, đặt trên một địa vị tối cao của nền học thuật nước nhà. Các sĩ phu trong nước phải học Phật và phải khảo hạch về giáo lý nhà Phật trước khi lãnh lấy trách nhiệm trị quốc an dân.
Nhờ thấm nhuần giáo lý từ bi, hỷ xả, của nhà Phật mà nhiều vị vua đã nhường ngôi lại cho con cháu để làm Thái Tthượng Hoàng vào chùa tu dưỡng, từ vua đến dân đều sùng mộ đạo đức, khắp nơi trong nước đêu nô nức xây cất chùa chiền, khai mở đạo tràng để khai hóa môn dân đệ tử. Giữa vua quan và dân chúng có sự yêu thương lẫn nhau, đãi ngộ nhau như con một nhà, như vua Lý Thái Tôn rất đỗi đau lòng khi thấy tội phạm giam trong ngục tù bị trói buộc, cơm không đủ no, áo không đủ mặc, đói rét giữa mùa đông đến.Ngài động lòng truyền lấy chăn, chiếu cho tù nằm và mỗi ngày cho ăn hai bữa đầy đủ.
Đời nhà Lý, vua Lý Thái Tôn đánh dẹp giặc Nùng, bình được giặc Chiêm, một chiến công hiển hách nhất là Lý Thường Kiệt đem binh đánh Tống, chiếm đát Lưỡng Quảng một chiến công mà không có triều đại nào trong lịch sử Việt Nam có được.
Trong bầu không khí nhộn nhịp hân hoan cùng cả nước đang hướng tới kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long Hà Nội. Chúng ta tưởng niệm Lý Công Uẩn Hoàng Đế Việt Nam với tầm nhìn Thăng Long. Nhằm tìm hiểu thêm một di tích lịch sử và cộng với một tinh thần tri ân theo truyền thống " uống nước nhớ nguồn"của các thế hệ dân tộc Việt Nam góp phần tôn vinh và giữ gìn bản sắc dân tộc.
Ngài Lý Thái Tổ, tên Húy là Lý Công Uẩn. (974-1028). Lý Công Uẩn người làng Cổ Pháp, tức làng Đinh Bảng, Phủ Từ Sơn, Tỉnh Bắc Ninh. Ngài là vị vua sáng lập nhà Lý và cũng là người sáng lập kinh đô Thăng Long. Một trung tâm chính tri, kinh tế, văn hoá trường tồn của đất nước.
Tục truyền Lý Công Uẩn là một nhân tài được nuôi dưỡng từ cửa Phật. Mẹ ngài là Phạm Thị. Nhân một ngày nọ bà đi lễ chùa Cổ Pháp đêm về, bà ngủ mộng thấy vị Long Thần cười với bà, sau đó bà thấy trong người khác lạ, và biết mình tự nhiên có thai [trường hợp này gọi là Thánh thai. ]
Khi sanh ngài ra, được ba tuổi, ngài được bà giao cho sư trụ trì chùa Cổ Pháp là Lý Khánh Vân nuôi và ngài Lý Công Uẩn ở chùa từ đó.
Thưở thiếu thời ngài rất khôi ngô, rắn rỏi,thông minh nên được nhà chùa cưng chìu, hết lòng chăm sóc dạy bảo, mới bảy tuổi ngài đã làu thông kinh sử, nhưng phải cái là ngài rất tinh nghịch.
Giai thoại kể rằng :" Một hôm sư trụ trì sai ngài mang oản cúng chỗ bệ thờ Hộ Pháp, chưa cúng ngài đã khoét ruột oản ăn trước. Đêm đến Hộ Pháp báo mộng cho sư biết, thế là ngài bị sư trách phạt . Cậu bé Lý Công Uẩn tức lắm liền viết vào lưng tượng" đày ba ngàn dặm". Đêm hôm đó sư trụ trì lại mộng thấy Hộ Pháp đến ngỏ lời từ biệt " Hoàng Đế đày tôi đi xa xin có lời chào ông". Sáng hôm sau bất ngờ sư thấy tượng Hộ Pháp như vậy. sư liền sai tiểu xóa, rửa mấy chữ ấy rửa mãi mà không sạch, bực mình sư quát, bắt Lý Công Uẩn phải tẩy chùi cái sản phẩm của mình. Lạ thay cậu bé Công Uẩn sợ quá xóa đại mấy cái, vậy mà sạch ngay. Sư hết sức kinh ngạc, nhưng chẳng nói gì. Sư biết đây không phải là đứa bé bình thường, hơn nữa Công Uẩn đã khá lớn rồi, Sư liền gửi Công Uẩn sang học với sư Vạn Hạnh bên chùa Lục Tổ.
Thiền sư Vạn Hạnh nổi tiếng hay chữ, học thông cả Tam Giáo lại có tài Kinh Luân. Ở đây, Công Uẩn cũng đã khôn lớn, nhưng cũng vẫn nghịch ngợm.
Một hôm Công Uẩn ham chơi bỏ học, về bị ngài Vạn Hạnh trói, phạt để cả đêm ở ngoài cổng Tam Quan. Canh khuya ngủ không được vì muỗi chích, chân lại bị trói, Công Uẩn tức cảnh làm thơ .
Tạm dịch:
Trời làm màn gối, đất làm nền.
Trăng gió cùng ta một giấc yên.
Đêm khuya chẳng dám dang chân duỗi.
Chỉ sợ giang sơn phải đảo điên.

Sư Vạn Hạnh phạt đệ tử như vậy cũng không yên bụng, ngài ngủ không được bèn ra cổng Tam Quan xem thử, giật mình nghe Công Uẩn làm thơ như vậy cho rằng Công Uẩn có chí khác thường.
Từ đó, Sư cố công dạy bảo nên người hữu ích. Sư Vạn hạnh cũng phải nhiều lần khen Công Uẩn : “ Thằng bé này không phải người thường , sau này lớn lên, ắt có thể giải nguy gỡ rối, làm bậc minh chủ trong thiên hạ”. Về sau nhờ Sư Vạn Hạnh là quân sư túc trí Công Uẩn được đưa vào làm quan nhà Tiền Lê thăng đến chức Tả Thân Vệ Điện Tiền Chỉ Huy Sứ. Là một chức quan đại thần to lúc bấy giờ.
Đến khi vua Ngọa Triều chết (1009), nhận thấy nhà Tiền Lê đã hết vai trò, lòng người lại đang căm giận triều đại này do những hành động bạo ngược của Ngọa Triều. Sư Vạn Hạnh cùng các quan trong triều cũng suy tôn ngài Lý Công Uẩn lên ngôi vua tức là vua Lý Thái Tổ.
Ngài Lý Thái Tổ là người khoan thứ, nhân từ được lên ngôi Hoàng đế, bèn đặt niên hiệu là Thuận Thiên (nghĩa là theo ý trời). Ngài lập sáu Vương Hậu. Con trưởng là Lý Phật Mã được phong làm Thái Tử, con gái lớn là An Quốc Công Chúa được gả cho Đào Cam Mộc cũng được phong làm Nghĩa Tín Hầu.
Ngài Lý Thái Tổ thấy đất Hoa Lư, Cố Đô của Đại Cồ Việt chật hẹp, không thể mở mang ra làm chỗ đô hội được, bèn định dời Đô về thành Đại La (hay La Thành) ngày nay là Hà Nội.
Tháng bảy năm Thuận Thiên thứ nhất (1010) thì khởi sự dời Đô. Khi ra đến La Thành, ngài nói: “ Có điềm trông thấy rồng vàng bay lên trên trời”, nên đổi tên Đại La thành Thăng Long, và cải Hoa Lư làm Trường An Phủ và Cổ Pháp làm Thiên Đức Phủ.
Quyết định dời bỏ hẳn một Kinh Đô từ vùng núi non hiểm trở ra vùng Đồng Bằng. Có thể cho thấy, bản lãnh và tầm nhìn của vị Hoàng Đế khai sáng ra triều Lý và Thủ Đô Hà Nội của Việt Nam.
Trong chiếu dời Đô( Thiên Đô Chiếu) Lý Thái Tổ khẳng định làm thế không phải theo ý riêng mà để mưu việc lớn, thấy thuận tiện thì thay đổi, cũng trong chiếu dời đô ngài viết rằng: “ Thăng Long là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi “Thượng Đô Kinh Sư” mãi muôn đời.
Như vậy, công cuộc thực sự chuẩn bị cho dời Đô chỉ diễn ra trong vòng năm tháng (từ tháng 2 đến tháng 7 năm 1010) đã là một Kinh Đô Đại Việt được chuẩn bị hoàn tất. Sử sách ghi nhận chưa đầy 5 tháng, chưa thể đủ cho việc xây dựng một kinh đô mới. Vậy nền tảng vật chất cho Kinh Đô Thăng Long hẳn đã được chuẩn bị từ trước đó.
Việc dời Đô có một ý nghĩa lịch sử vô cùng trọng đại, nó đánh dấu sự phát triển của xã hội Việt Nam đã đến lúc đòi hỏi một trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa có tầm rộng lớn hơn khu vực Hoa Lư nhỏ hẹp, bởi vì Thăng Long là nơi :
Đất này bền vững dài lâu
Thế như “hổ phục rồng chầu” uy nghi.
Xứng danh được chọn kinh kỳ.
Ngoại giao nội trị thích nghi mọi đường
Núi non sông nước phố phường
Đất này trọng yếu bốn phương tụ về .

Chuyện cũ kể rằng: “Sông Hồng khi xưa ăn thông với hồ Xác Cáo (còn có tên là hồ Trâu Vàng, Hồ Lãng Bạt, hồ Đạp Hối) điểm nối kết là ở cửa sông Bãi Sậy ( tức hồ Trúc Bạch ngày nay).
Năm 1010, Vua Lý Công Uẩn chèo thuyền ngược Sông Hồng tới đây, thì nhìn thấy một con rồng bay lên, cho là điềm tốt, người ban chiếu dời Đô lấy tên là Thăng Long và đặt cho hồ bao la này là hồ Dâm Đàm (mù sương) thành Thăng Long.
Thuở ấy, nơi này chỉ vẻn vẹn 4km vuông, ở phía Nam và Đông Nam hồ Dâm Đàm, để tránh tránh cho kinh thành khỏi bị lũ lụt uy hiếp hằng năm và để tránh cho làng mạc, thôn xóm vùng hạ lưu sông khỏi bị lũ lụt phá hủy mùa màng, một công trình thủy lợi vĩ đại đã diễn ra trong hai triều đại nhà Lý và nhà Trần, gần 2000km đê đã mọc lên, cứu đồng bằng Bắc bộ thoát khỏi lũ lụt.
Tại kinh đô Thăng Long , con đê đã ngăn cách Sông Hồng với hố Dâm Đàm. Sang thời Hậu Lê, đê Mã Canh nối từ Yên Quang tới Yên Phụ (tức đường Cổ Ngư, đường Thanh niên sau này) đã được tạo ra để ngăn nốt mối liên hệ giữa hồ Dâm Đàm với cửa sông Bãi Sậy, hình thành hồ Trúc Bạch, tách hẳn hồ Tây như ta đã thấy ngày nay .
Đó là những điều mà hằng trăm năm qua nhiều người được biết, thỉnh thoảng có người nhắc lại như nhắc tới một truyền thuyết đáng trân trọng. Nhưng vẫn có người không tin . Những thông tin mới nhất về cứ liệu lịch sử và cơ sở thực tiễn đã làm cho mọi người sửng sốt và phải nhìn nhận vấn đề một cách nghiêm túc.
Một là bản đồ hệ thống núi non hình rẽ quạt đi từ Tây sang Đông. Dãy Đông Triều, Ngân Sơn, Sông Gầm, Hoàng Liên Sơn, Sông Đà Và Tam Đảo… đều quy tụ tại Thăng Long, các dãy núi đồng quy như vậy tất tạo nên các luồng khí đồng quy . Các luồng khí tạo thành cơn lốc, xoáy lại, bay lên, tạo nên hình ảnh là hoàn toàn có thật. Như vậy, Vua Lý Công Uẩn đã nhìn thấy rồng thật không phải là giấc mơ, cũng không phải tưởng tượng ra.
Hai là toàn bộ các dòng sông đều chảy theo hướng thìn (rồng) hướng của chòm sao Cang Kim Long gần như tất cả đều quy tụ về động mạch chủ là Sông Hồng. Sử sách Kim Cổ, Đông Tây đều nói đến nền văn minh của các dòng sông “ Văn Minh Sông Hồng”là quy tụ các nền văn minh của các dòng sông, thì giá trị được tăng lên gấp bội. Đó chính là Núi Châu, Sông Tụ.
Một người uyên bác như Vua Lý Công Uẩn với sự đóng góp trí tuệ của người thầy là Thiền Sư Vạn Hạnh đã sớm phát hiện ra thế đất có cấu trúc phong thủy quý hiếm này thì việc ban chiếu dời đô về đây, đặt tên Kinh thành Thăng Long là một quyết định vô cùng thông minh và chuẩn xác. Không ai có thể xoay được thế của núi sông trời đất này. Một ngàn năm đã đến, Thăng Long xưa đã trở thành một Hà nội phát triển. Năm 2010 thì quy mô đã kín cả 2 bờ Tả ngạn, Hữu ngạn và thành phố đã ôm gọn Hồ Tây, thực sự là tâm điểm của huyệt đạo, một quốc gia như xưa kia ngài Lý Công Uẩn hằng mong muốn. Vị Hoàng Đế Việt Nam thời Lý này đã có cái nhìn thật sâu, thật xa từ gần một ngàn năm trước vậy.
Tháng 6 năm Thuận Thiên thứ 9 ( Mậu Ngọ 1018) Lý thái Tổ sai quan là Nguyễn Đạo Thành và Phạm Hạc sang nhà Tống (Trung Quốc) thỉnh Tam Tạng Kinh Điển để vào kho Đại Hưng .
Trong Đại Sử Ký Lê Văn Hưu nói : “Lý Thái Tổ lên ngôi chưa được hai năm, Tông miếu chưa dựng, đàn xả tắc chưa lập mà trước đã xây dựng được 8 chùa ở Phủ Thiên Đức, lại trùng tu chùa quán ở các lộ và độ cho làm tăng hơn nghìn người kinh sư……”.




Những ngôi chùa cổ kính có sắc thái kiến trúc văn hóa Phật Giaó đời nhà Lý được xếp vào hàng di tích thắng cảnh Việt Nam như:
Chùa Thiên Phúc tục danh chùa cả ở làng Thụy Khê, Phủ Quốc Oai Tỉnh Sơn Tây.
Chùa Thầy ở Sài sơn, Quốc Oai, Tỉnh Hà Tây.
Chùa Diên Phúc ở thôn Thái Bình, Xã Mai Lâm, Huyện Đông Anh, Thủ Đô Hà Nội .
Hiện nay Thủ Đô Hà Nội bảo vệ được 62 di tích lịch sử, trong đó chùa chiếm đa số.
Nói đến chùa người ta nghĩ đến mái chùa cong cong cổ kính, nép mình khiêm tốn trong thôn xóm đìu hiu
Thấp thoáng đâu đây cảnh tượng làng,
Có con đường nhỏ chạy lang thang.
Có hàng tre gợi hồn sông núi,
Yên lặng chùa tôi ngập nắng vàng. (Huyền Không)
Ngôi chùa là tất cả cái gì cao quý không chỉ đối với Phật Giáo mà còn đối với dân tộc Việt. Chùa còn tượng trưng cho quê hương dân tộc
Chùa vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt , qua tháng năm dầu trải qua bao cuộc thăng trầm trong lịch sử quốc gia Việt Nam.Chùa vẫn trường tồn :
Chùa đứng hiền lành từ thưở xưa
Hồn dân gởi gấm tự bao giờ.
Tổ tiên bồi đắp qua năm tháng,
Nối tiếp không ngừng lớp tuổi thơ (Huyền Không- Ngày vui dân tộc)
Mái chùa đã tượng trưng cho tất cả thâm tình chất chứa trong tim , trong tâm hồn người dân Việt. Tình yêu quê hương gắn với tình yêu Đạo Phật, yêu mái chùa .Thật đúng như lời nhà thơ đạo Huyền Không diễn tả:
Mái chùa che chở hồn dân tộc,
Nếp sống muôn đời của tổ tông.

Tóm lại, đời nhà Lý Phật giáo rất thịnh, chùa mọc lên như nấm, không những không hạn chế,ai đi tu, xây chùa còn được khen ngợi và trọng đãi. Trong 216 năm trải qua 8 đời vua, vua nào cùng sùng tín đạo Phật, đức Từ, Bi, Hỷ, Xả của nhà Phật đã hun đúc từ vua quan cho đến dân dã những đức hy sinh cao cả, xem thường danh lợi, ưa chuộng nhân nghĩa đạo lý, cho nên ở thời này học thuật và chính trị đều nằm trong tay các vị tăng lữ thiền môn.
Vua Lý Thái Tổ trị vì 19 năm thì mất, thọ 55 tuổi.
Ngài Lý Công Uẩn thực sự là người con ưu tú của dân tộc. Ngài đã cùng triều Lý làm rạng danh nước Đại Việt, viết lên những trang sử dựng nước và giữ nước.

Và Thủ Đô Hà Nội là điểm son lịch sử là niềm tự hào của Dân Tộc Việt đã và đang với tư thế hân hoan chào đón đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Hội trên tinh thần lợi tha, yêu Tổ quốc Quê hương, yêu lịch sử dân tộc Việt .

(Bài tham luận này đã đăng, đọc tại Hội Thảo Khoa Học - Phật Giáo thời Lý với 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, Ngày 29/7/2010 tại Thủ đô Hà Nội.)
Tác giả Biên khảo: Ni Sư Thích Nữ Nhàn Liên Tịnh xá Ngọc Ban -Tỉnh Đắc Lắc



_________________


Được sửa bởi Toc Trang ngày CN 9 02, 2012 5:24 am; sửa lần 40.
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
phale
HS SaoMai


Ngày tham gia: 19 7 2008
Số bài: 448

Bài gửiGửi: Sáu 1 20, 2012 6:18 am    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này




" Khi gặp bạn hiền trí, nên sống chung hạnh lành; Vượt qua mọi hiểm nguy, hoan hỷ sống chánh niệm ... "




Được sửa bởi phale ngày Bảy 3 10, 2012 7:55 pm; sửa lần 3.
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
Toc Trang
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 10 6 2008
Số bài: 1767

Bài gửiGửi: Bảy 1 21, 2012 12:46 am    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này




_________________


Được sửa bởi Toc Trang ngày Bảy 3 10, 2012 8:03 pm; sửa lần 4.
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
phale
HS SaoMai


Ngày tham gia: 19 7 2008
Số bài: 448

Bài gửiGửi: Ba 1 24, 2012 9:09 pm    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này


Cổng chùa Cổ Pháp nơi tương truyền Lý Công Uẩn từng sống thời bé


Chùa Cổ Pháp còn gọi là chùa Dặn nơi nhà sư Lý Khánh Văn nuôi dưỡng Lý Công Uẩn


Rồng đá bên tượng đài Lý Công Uẩn



Linh thú chùa Phật Tích

Lý Công Uẩn sáng lập, truyền nối được chín đời vua. Đây là triều đại quân chủ Phật giáo rạng rỡ nhất trong lịch sử.
Sau khi đăng quang ở Kinh Đô Hoa Lư, vua quyết định dời đô về thành Đại La, đổi tên thành Thăng Long. Nhà Lý phối hợp nhuần nhuyễn hai hệ tư tưởng lớn Phật giáo - Nho giáo với truyền thống dân tộc để xây dựng nền tảng văn hóa vững chắc, đủ sức đề kháng với văn hóa phương Bắc áp đặt trên dân tộc suốt một ngàn năm.
Những di sản vật thể còn tồn tại đến nay cho thấy dưới thời Lý, văn hóa Việt giao lưu, tiếp thu nhiều yếu tố Phật giáo Đông Nam Á, được truyền từ Ấn Độ sang. Xã hội chưa bị ràng buộc theo những kỷ cương cứng nhắc của Nho giáo nên tư tưởng phóng khoáng, bao dung dễ hòa hợp. Nhờ đó mỹ thuật phát triển, tiến bộ rất nhanh tạo được những tác phẩm điêu khắc bằng đá tiêu biểu như tượng Phật Thích Ca, tượng Kim Cương Hộ Pháp, tượng các linh thú ở chùa Phật Tích, giếng nước chùa Báo Thiên…
Tác phẩm to lớn bằng đồng như tượng Phật Quỳnh Lâm, chuông Quy Điền, tháp Báo Thiên, vạc Phổ Minh (An Nam tứ đại khí)… Các loại hình trang trí trên nóc chùa tháp, cung điện bằng đất nung rất đa dạng như rồng, kim xí điểu, nhạc thần, lá bồ đề, hoa sen… tuyệt đẹp. Đặc biệt là các loại đồ gốm men ngọc, men xanh lục, men ngà… kiểu thức thanh nhã, khắc họa hoa văn tinh tế, được xem là dấu ấn mỹ thuật của thời Lý, đậm đà bản sắc Đại Việt.


Đền Đô



Địa danh Thăng Long ra đời gắn liền với việc dời đô của Lý Công Uẩn





Được sửa bởi phale ngày Hai 9 03, 2012 8:45 pm; sửa lần 2.
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
Toc Trang
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 10 6 2008
Số bài: 1767

Bài gửiGửi: Bảy 3 10, 2012 7:33 pm    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Sơ lược Tiểu sử Đức Tổ Sư Minh Đăng Quang
[1923 - 1954]

Để tưởng niệm công đức khai sơn Hệ phái Khất Sĩ của Tổ sư Minh Đăng Quang, Nhân ngày kỷ niệm 55 năm Tổ Sư vắng bóng, chúng tôi xin giới thiệu tóm lược đôi dòng tiểu sử ghi lại cuộc đời của Tổ Sư.

Tổ Sư MINH ĐĂNG QUANG, thế danh Nguyễn Thành Đạt, tự Lý Hườn, sinh ra đời lúc 10 giờ tối ngày Tân Tỵ 26 tháng 09 năm Quý Hợi 1923 tại làng Phú Hậu, tổng Bình Phú, quận Tam Bình, Tỉnh Vĩnh Long miền Nam – Việt Nam.

Thân phụ Ngài là cụ ông Nguyễn Tồn Hiếu, thân mẫu là cụ bà Phạm Thị Nhàn. Từ bao đời gia đình song thân vốn có nền nếp ăn ở theo đạo thánh hiền, tu nhân tích đức, được người đương thời khen ngợi là gia đình hiền lương nhân nghĩa. Trong gia đình ông bà cụ có tất cả năm người con, Ngài là con út. Trước Ngài có bốn anh chị, cụ bà đều thọ thai và sinh nở bình thường, nhưng đến Ngài thì cụ bà mang thai đến 12 tháng mới khai hoa. Mười tháng sau, ngày 25 tháng 07 năm Giáp Tý 1924, cụ bà bịnh nặng và qua đời , hưởng dương 32 tuổi ( sau này Ngài vắng bóng cũng năm 32 tuổi ). Từ đó về sau Ngài được thân phụ và bà kế mẫu Hà Thị Song nuôi dưỡng đến ngày trưởng thành. Cụ ông mất ngày mùng 5 tháng giêng năm Mậu Thân 1968, thọ 75 tuổi.

Thuở nhỏ tuy sinh trưởng và lớn lên ở một làng vùng quê nhưng Ngài có trí thông minh khác hơn những trẻ cùng thời. Phong cách đi, đứng, ăn, mặc, nói làm. . . đều thể hiện đức tính trang nghiêm điềm đạm hơn chúng bạn. Chính nhờ vậy mà ngay từ lúc còn niên thiếu Ngài được thân phụ rất yêu quý và mọi người chung quanh đều một lòng thương mến. Đến tuổi cắp sách vào trường, Ngài luôn chăm chỉ học hành, bài vở thầy dạy đến đâu Ngài thông suốt đến đó và mỗi năm mỗi tiến phát.

Ngoài giờ học tập ở trường, Ngài giúp đỡ việc nhà, hầu hạ cha mẹ. Và hơn nữa, Ngài rất siêng năng ưa thích nghiên cứu tìm hiểu sách vở ghi chép sử liệu các tôn giáo, nhất là tam giáo: Thích – Đạo – Nho. . . Ngài tìm tòi học hỏi rất tường tận. Nhờ vậy mỗi khi chuyện vãn với những người thiện duyên quen lạ gặp gỡ, Ngài đều luận giải mọi vấn đề một cách tinh tường và được người người kính phục.

Vốn được hấp thụ nề nếp đạo đức nho phong nên Ngài thường tới lui các nhà đạo đức trưởng thượng đương thời để tham vấn đạo lý. Trong thời gian này, Ngài có tạo phía sau nhà một cái thất nhỏ để hằng ngày tiện bề tu tập tham thiền. Ngài thường trầm tư mặc tưởng, có khi cả đôi ba giờ đồng hồ. Có những buổi chiều Ngài thường hướng mắt về chân trời bao la với vẻ mặt đăm chiêu như đang suy nghĩ điều gì mà chưa giải quyết được.




CON ĐƯỜNG XUẤT GIA, SỰ THỬ THÁCH VÀ ĐẠO QUẢ

Với tinh thần hướng thượng sẵn có, nhiều lần Ngài xin phép với thân phụ được xuất gia tầm chân lý. Thân phụ vì quá thương con nên không đành để Ngài ra đi một mình một bóng đến xứ lạ quê người hoặc nơi núi rừng cô tịch, hang động hiểm nguy khi tuổi đời còn niên thiếu, nên cụ ông nhất định cản ngăn. Thấy việc trình xin xuất gia không kết quả vì tình phụ tử quá thiêng liêng, nhưng cũng không vì sự luyến ái đó mà Ngài bỏ dở chí đăng sơn. Qua nhiều đêm suy nghĩ Ngài tự nhủ không thể tầm thường như bao người trong trần tục để kiếp phù sinh cứ mãi lăn xoay trong vòng sanh, già, bịnh, chết. . . Cuối cùng Ngài quyết tâm dõng mãnh cất bước ra đi, cắt đứt tình thân:
Thôi thì thôi, thế thôi thì,
Vẹn nguyền, xin chịu lỗi nghì với cha.
Thiếu niên ngày nọ lìa nhà,
Vượt biên giới Việt – Miên xa dặm ngàn.
Lên non tìm động hoa vàng,
Tầm sư học đạo chốn Nam Vang thành.


Ngài rời Việt Nam đến Campuchia năm đó được 15 tuổi. Ngay từ buổi đầu gặp được một vị Thầy Việt lai Miên nổi tiếng đạo pháp cao siêu, Ngài liền cầu xin thọ giáo. Trải qua những cuộc trắc nghiệm cam go, rốt cuộc vị Thầy hoan hỷ tỏ lời khen ngợi và giao hết gia sản đạo nghiệp cho người đệ tử trông nom. Được bốn năm ở Campuchia, Ngài vừa làm xong bổn phận, vừa nghiên cứu Kinh Tạng và đường lối Y- Bát chơn truyền của Phật Tăng xưa. Tuy nhiên những điều Ngài đã thọ học nơi Thầy và những gì vị Thầy trao lại không thỏa mãn tâm nguyện của mình nên Ngài đã xin phép Thầy để trở về Việt Nam.

Trên đường về lại quê hương, Ngài gặp phải một thử thách lớn trong đời. Một thử thách mà khắp thế nhân người người đều phải mang nặng – đó là hiếu nghĩa song đường và nghiệp duyên trần thế:
Cha già mái tóc điểm sương,
Mẹ xưa dưới mộ chút hương linh này.
Thôi thì theo cái xưa nay,
Lập gia thất để yên mây chín từng.
Nghĩa ân vành vạnh một vừng,
Có nàng thục nữ khuê trung dịu dàng.
Cảm ơn cứu tử ngàn vàng,
Nguyện cùng xướng họa cung đàn phu thê.
Phương danh nàng là Kim Huê,
Quê vùng Chợ Lớn vẹn bề công dung.

Và rồi duyên định cũng an bài. Hơn một năm sau Kim Huê giả từ trần mộng. Điều này quả thực đúng với ý nghĩa bi mầu trong cõi hạ vô biên:
Gẫm trong trời đất vô cùng,
Nợ duyên âu cũng nghiệp chung muôn loài.
Hay là thánh ý Như Lai,
Muốn cho ôn lại trọn bài đau thương?
Đau thương là tính vô thường!
Vô thường là tính đoạn trường xưa nay.


Bài học đau thương, bài học vô thường, bài học đoạn trường, quả là những bài học vi diệu đã kiến tạo cho cõi phiền não thành cảnh giới an vui, đã giúp duyên cho lòng người Bồ Tát tròn xong hạnh nguyện hôm nào còn dang dở.

Lần này Ngài dốc chí ôm bổn nguyện ra đi, đi một phương trời vô định, đi không bao giờ trở lại. Đầu tiên Ngài đi đến Hà Tiên định lần qua Phú Quốc, rồi sau đó sẽ tìm sang các nước học đạo truyền giáo. Nhưng khi vừa đến nơi thì đã trể tàu. Ngài ở lại ra đầu gành bãi biển Mũi Nai ngồi tham thiền bảy ngày bảy đêm quán xét nhơn duyên. Trước cảnh thiên nhiên trời đất bao la, những chiếc thuyền nhấp nhô, bọt nước tụ tán vào một buổi chiều Ngài ngộ lý vô thường, vô ngã, cảnh khổ trầm luân, đầy vơi, có không, còn mất, sống chết, khổ vui của cuộc đời. Chính nơi đây Ngài tỏ sáng lý pháp “ Thuyền Bát Nhã” ngược dòng đời cứu độ chúng sanh. Năm đó Đức Ngài tròn 22 tuổi:
Mãn khai vô thượng liên đài,
Trang nghiêm thị hiện Như Lai tọa thiền.


Sau khi chứng ngộ lý pháp nhiệm màu, với lòng hoan hỷ vô biên, Ngài trở lại gia đình để thông báo cho cụ ông Nguyễn Tồn Hiếu và mọi người biết, rồi lên Thất Sơn tiếp tục tu tập. Ngài dấn thân vào vùng núi Thất Sơn, nơi có nhiều núi non huyền bí , hang động sâu thẩm, có những bậc ẩn tu ít người thấy gặp. Ngài đến đây với tất cả lòng thành, quyết chí tu hành, hiến dâng cuộc đời cho Phật Pháp với mục đích thành tựu Phật quả. Giữa chốn núi cao chớn chở, cây lá phủ giăng bốn bề tịch lặng, chỉ nghe tiếng chim kêu vượn hú, làm bạn với cỏ cây. Đêm thì tham thiền tĩnh tọa, buổi sáng thì mang bình bát đi khất thực hóa duyên trong thôn xóm theo hạnh Phật Tăng xưa. Giờ ngọ thọ trai xong, Ngài trở về tìm chỗ tịch lặng để đi kinh hành và giữ mình thanh tịnh, trau dồi đạo quả. Năm 1946, do nạn chiến tranh tàn phá núi rừng, làm cho người tu không chỗ ở, nhân duyên Ngài gặp một vị hiền Sĩ thỉnh Ngài về làng Phú Mỹ, tỉnh Mỹ Tho để tu tập và truyền bá chánh Pháp. Ngài tự nghĩ: Đạo cốt tiếp vật lợi sanh, ở một mình chẳng phải như Tổ Qui Sơn đã nói, nên Ngài bằng lòng theo vị Hiền Sĩ này về Phú Mỹ khởi đầu cho công cuộc truyền bá Giáo Pháp Khất Sĩ.





THUYẾT PHÁP VÀ TRUYỀN ĐẠO

Để đánh dấu bước đường hoằng dương Phật Pháp, thời pháp đầu tiên được Ngài khai đàn giảng là “ Thuyền Bát Nhã” vào ngày rằm tháng tư tại Linh Bửu Tự, làng Phú Mỹ, tỉnh Mỹ Tho. Từ đó người dân hiền cảm mến hình ảnh một thầy tu, một nhà sư thân đắp mảnh y vàng, tay ôm bình bát đất, đi khất thực vào mỗi buổi sáng, không nhà cửa, không gia đình quyến thuộc, không cất giữ chứa chấp món chi, không ở một nơi nào nhất định, không tiền bạc v.v… Ngài phát nguyện “ Nối truyền Thích Ca Chánh Pháp”, noi gương Phật Tăng xưa sống đời phạm hạnh giải thoát:
“ Nhất bát thiên gia phạn
Cô thân vạn lý du
Dục cùng sanh tử lộ
Khất hóa đô xuân thu”.


Trong những tháng đầu năm 1947, Ngài đã nhiếp độ đầy đủ cả hai chúng Nam Nữ cư sĩ và hai chúng xuất gia Tăng Ni Khất Sĩ.

Cũng tại đấy Ngài soạn thảo nghi thức tụng niệm lễ cúng, chương trình tu học, hành đạo cơ bản cho cư sĩ và Tăng Ni. Ngài quan tâm giáo dưỡng, xây dựng cơ bản hai Tăng Ni Đoàn, tốt về Đạo Hạnh, vững về kiến thức Chánh Pháp Phật Đà. Đầu năm 1948, nhân duyên hội đủ Đức Tổ Sư rời Phú Mỹ, khởi phát chuyến du hành đầu tiên do Ngài hướng dẫn có hơn 20 Tăng Ni trực chỉ vùng Sài Gòn, Gia Định – Chợ Lớn. Từ đó, gót chân hành đạo của Đức Tôn Sư MINH ĐĂNG QUANG, vị sư trưởng của Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam bước rộng lần ra từ phạm vi làng này sang làng khác, từ tỉnh này sang tỉnh khác.

Trong những buổi thuyết pháp, Ngài luôn kêu gọi tăng đồ trở về với giới luật “ NÊN TẬP SỐNG CHUNG TU HỌC”. Ngài kêu gọi nhân loại hãy thương yêu nhau “ không tự lấy để trừ tham, không tự làm để tránh ác”. Và Ngài cũng khuyến khích mọi người hãy cùng chung xây dựng một cõi đời đạo đức, một xứ thiên đường, một cuộc sống an vui hạnh phúc cho nhân loại ngay tại trần gian này bằng cách:
Mỗi người phải biết chữ
Mỗi người phải thuộc giới
Mỗi người phải tránh ác
Mỗi người phải (học đạo) làm thiện
.


Những thời pháp của Ngài còn ghi lại trong bộ chơn lý ( gồm sáu mươi chín tiểu luận ). Ngài đã khéo léo dung hợp tư tưởng giáo lý của hai tông phái Phật giáo, đưa ra con đường trung đạo Chánh Đẳng Chánh Giác. . . giúp cho mọi tầng lớp trong xã hội nhận chân giá trị của Đạo Phật.

Ngài chủ trương và thường khuyến hóa chư đệ tử với quan niệm “Ta là tất cả, tất cả là ta, ta sống cho tất cả thì tất cả sống cho ta, tiếng ta đây là tất cả, đó tức là chơn lý vũ trụ”. Người thực hành đúng chơn lý gọi là Khất sĩ. Khất ấy là xin. Sĩ đây là học. Xin ấy rồi lại cho, học đây rồi lại dạy. Xin phẩm thực để nuôi thân giả tạm, cho sự thiện lành phước đức để bảo giữ sự sống dài lâu. Học bằng cách lượm lặt phương pháp khắp nơi, rút nhiều kinh nghiệm. Dạy ta đến kết quả thật hành đặt điểm chỉ lại cho người. Cái xin , cái học, cái dạy, cái cho, các pháp nương sanh, mở ra con đường sáng lạn cho tất cả về sau tiến bước. Con đường ấy kêu là Đạo. Đạo của sống là xin nhau sống chung. Đạo của biết là học chung, Đạo của Linh là tu chung. Chư Tăng, Ni xuất gia theo Ngài học đạo thời bấy giờ có trên trăm vị, còn Phật tử theo quy y thọ giới tại gia cũng cả hơn vạn người. Tịnh xá được thành lập hơn 20 ngôi tại các tỉnh miền Đông và đồng bằng Sông Cửu Long. Ngài hành đạo thuyết pháp độ sanh được khoảng 10 năm thì thọ nạn và vắng bóng.

THỜI KỲ THỌ NẠN & VẮNG BÓNG

Chiều ngày 30 tháng giêng năm Giáp Ngọ (1954) khi ánh mặt trời vừa lắng dịu, tại Tịnh Xá Ngọc Quang Sa Đéc, Đức Ngài chậm rãi qua lại bên tàng cây bã đậu với dáng vẻ suy tư . . . cho đến khi mặt trời vừa lặn. Ngài gọi Chư Tăng đệ tử lấy đệm trãi dưới gốc cây Bồ Đề, ân cần dạy bảo về sự tu học và sự mở mang mối đạo. Đức Ngài cũng cho biết thêm tương lai Đạo phật tại Việt Nam và các nước. Ngài từ giã chư đệ tử để đi tu tịnh tại núi “Lửa” một thời gian. Chư Tăng đệ tử xin theo Ngài không mà còn dặn rằng: “Các con hãy ở lại mở mang mối đạo, giáo hóa chúng sanh đền ơn Chư Phật, ấy là các con theo Thầy và làm vui lòng thầy nơi xa vắng, rồi một ngày kia Thầy sẽ trở về”.

Sáng ngày hôm sau mùng 1 tháng 02, Đức Ngài rời Tịnh Xá Ngọc Quang đi với một vị sư già và một chú điệu qua Tịnh Xá Ngọc Viên Vĩnh Long, rồi qua tiếp Cần Thơ. Nhưng khi đến Cái Vồn (Bình Minh) thì bị một số người ngoại đạo bắt đi biệt tích. Bấy giờ Chư đệ tử mới biết rõ ra lời nói của Ngài đi tu tịnh núi “Lửa” Đó là lời cảm nhận mầu nhiệm của Tổ Sư. Rồi từ ấy đến nay bóng Ngài bặt vô âm tín. Mấy chục năm dài trôi qua. Mấy chục mùa xuân biền biệt. Mấy chục mai vàng rơi rụng chia xẻ nỗi niềm của hàng vạn con tim hiếu kính thương nhớ Tổ Thầy:

Mỗi năm mỗi thắp hương lòng
Cầu cho Sư Tổ thoát vòng tai ương
Trở về bên mái Phật đường
Chuyển pháp luân độ mười phương an lành
Trái oan là nghiệp chúng sanh
Nạn tai là chuyện phải đành mà thôi
Đành rồi, hóa giải tức thời
Khổ đau sẽ hết, nụ cười thêm xinh
MINH ĐĂNG QUANG bóng an bình,
MINH ĐĂNG QUANG ngọn đèn linh ta bà.


Hằng năm, hàng môn đồ tứ chúng đệ tử luôn cầu nguyện và tâm niệm:
MINH ĐĂNG QUANG bóng an bình,
MINH ĐĂNG QUANG ngọn đèn linh ta bà.


Bởi từ lâu chúng ta đã thấu hiểu lời dạy quý báu và sâu xa của Đức Thế Tôn: “Dù người ta có giết thầy mình, mình cũng không nên giết hại lại”. Và lời dạy thấm thía vi diệu nhất đối với chúng ta hôm nay vẫn là “Kẻ nào cột oan trái rằng – họ đã giết ta, đã đánh ta, đã thắng ta, đã cướp của ta, oan trái của người ấy không bao giờ dứt. Người nào không cột oan trái như thế, thì oan trái của người ấy sẽ dứt. Và từ cổ chí kim, oan trái không bao giờ dứt được bởi sự cột oan trái. Oan trái chỉ dứt được bởi sự không cột oan trái”.

Hiểu được giáo lý một cách vững chắc như vậy, chúng ta sẽ nghe mình rất hạnh phúc khi được trả nghiệp. Huống hồ chúng ta còn giác ngộ hơn khi Tổ Sư chúng ta xem đây là từng mức thử thách cần phải trả, cần phải vượt qua để làm nên đạo Bồ Đề:

"Quỳnh trong nước mắt, sen trong lửa
Phút nhập thần sương bạc khói lam
Chia nẻo khói sương về tới đích
Cả hai cùng hiện một hoa đàm”.


Dấn thân vào cõi tử sanh, hòa điệu để được trả nghiệp mà cũng là phương pháp chuyển hóa nghiệp, nhân đối diện hầu tạo hạnh phúc an vui cho khắp vạn loài. Đây là tinh thần xả kỷ lợi tha của Chư Bồ Tát, là tinh thần từ bi bất diệt của Đức Phật và giáo pháp Khất Sĩ Việt Nam.

Biết và nghĩ được như vậy, nên từ ngày Đức Tôn Sư MINH ĐĂNG QUANG, vắng bóng đến nay đã trải qua năm chục năm dài rồi mà chư đệ tử Tăng Ni và Nam Nữ Phật tử vẫn cùng nhau nối tiếp, một lòng mến đạo, kính thương Tổ Thầy, y lời chỉ giáo, gắng công duy trì đường lối giáo lý Y – Bát Khất Sĩ với sứ mạng thiêng liêng cao cả của Tổ Thầy để mở mang Phật Pháp hầu dìu dắt bá tánh nhân sanh, đáp đền ơn Phật và Tổ Thầy trong muôn một.

KẾT LUẬN

Nhờ tinh thần truyền thừa bất diệt và tinh tấn dõng mãnh của Tổ Sư mà hiện thời hai miền Nam – Trung, cao nguyên và đồng bằng đất Việt đều có Tịnh Xá Đạo Tràng xương minh chánh pháp. Chư Tăng Ni và Phật tử ngày thêm tăng trưởng. Tuy nhiên chúng ta cũng biết không có một con đường hay pháp môn nào đưa đến thành tựu và hưng thịnh mà không trải qua những thử thách gạn lọc. Bởi trong thực tế của từng giai đoạn ngay trong thời điểm, thế hệ chúng ta đang tu học – một số chư Tăng Ni Phật tử huynh đệ chúng ta đã phần nào biểu hiện sự sa sút đời sống phạm hạnh, thối chuyển, chán nản, có những trường hợp từ bỏ cuộc sống tu hành. Dù vậy, nếu chúng ta can đảm nhìn thẳng vào sự thật, quán xét sự tương phản, biến hiện sanh diệt của các pháp trong mỗi lúc, chuyển hóa nó trở lại thành bài học kinh nghiệm, một phương pháp diệu dụng giúp chúng ta cảnh giác, nhiếp phục mọi trở ngại để tiến đến đạo quả giải thoát an vui đúng như chư Phật, chư Tổ hằng chỉ giáo khai thị: “Phiền não tức Bồ Đề”.

Chư Tôn Trưởng Lão, Thượng Tọa, Đại Đức Tăng Ni và hàng Phật tử chúng ta đã từng chịu đắng, nuốt cay vượt qua biết bao cam go, khó khăn thử thách của trường đời mới giữ được thành quả cao quý trang nghiêm như ngày hôm nay. Và rồi điều này lại càng nhắc nhở chúng ta hơn trên con đường dẫn đến tương lai cũng khó khăn như con đường quá khứ:

“ Kẻ đến chân non, kẻ mệt đờ
Kẻ còn xa lắc,kẻ xa lơ
Kẻ đang muốn “ bán đồ nhi phế”
Kẻ đã lưng cao tự thuở giờ”


Vì thế chúng ta cần phải sáng suốt nhận định chắc chắn rằng: “Có người đang lên đường, có người đang chán nản, có người rồi sẽ chán nản”. Nhưng niềm tin sắt đá ở chúng ta nhất định không di dịch, bởi cũng có “người đã lưng cao tự thuở giờ”. Hào quang của chư Phật, chư Tổ mãi mãi muôn đời vẫn huy hoàng sáng rực soi nẻo thánh thiện dẫn lối chúng ta đi.

Hằng năm, cứ ngày giờ này – chẳng những tại đạo tràng Tịnh Xá nơi đây chúng ta đang trang nghiêm tưởng niệm ngày Đức Tôn Sư vắng bóng mà hầu hết ở khắp các miền, các quốc độ gần xa, nơi nào có Đạo Tràng Tịnh Xá là nơi đó có hàng trăm, hàng ngàn môn đồ đang ngậm ngùi tưởng nhớ thâm ân cao cả của Tôn Sư.

Dù trải qua năm mươi lăm năm dài biền biệt Đức Ngài đã xa vắng, nhưng tấm lòng của người đệ tử hiếu đạo trung kiên không khi nào xa vắng. Và nguyện ghi vào tâm khảm đời đời tấm gương Bi – Trí – Dũng của Tôn Sư để làm rạng rỡ tông môn Pháp phái.

Và một điều là dù mai kia, mốt nọ, đường trần muôn lối, mỗi người chúng ta tu tập hành đạo một nơi, nhưng mong rằng chư huynh đệ Tăng Ni Phật Tử, hàng môn đồ đệ tử của Đức Tôn Sư luôn luôn khắc dạ ghi lòng:

“ Từ ngàn trước bao người dong ruổi
Nay chốn này đến buổi chúng ta
Con giòng hưởng lấy tài gia
Đoái nhìn sự nghiệp thương cha công trình.
Càng rộng lớn kinh dinh đồ sộ
Là người xưa lao khổ lại càng
Tìm ra được ánh đạo vàng
Nhọc nhằn một kẻ, vẻ vang muôn người
Ôi thật đáng cho đời kính ngưỡng
Công đức Ngài vô lượng vô biên
Hởi chư Phật tử hữu duyên
Nhớ ơn Thầy Tổ cần chuyên tu hành”.


Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Hệ phái Khất Sĩ phụng soạn praying praying praying praying praying



_________________


Được sửa bởi Toc Trang ngày Tư 4 11, 2012 2:45 am; sửa lần 14.
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
Toc Trang
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 10 6 2008
Số bài: 1767

Bài gửiGửi: Sáu 4 06, 2012 2:38 am    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

CHÙA SẮC TỨ KHẢI ĐOAN BUÔN MA THUỘT



Chùa sắc tứ Khải Đoan (Sắc tứ Khải Đoan tự), là ngôi chùa lớn nhất thành phố Buôn Ma Thuột nằm ở phường Thống Nhất và cả ở Đắk Lắk. Tên Khải Đoan là ghép từ tên vua Khải Định và vợ ông là Đoan Huy hoàng thái hậu. Chùa thờ Phật Thích Ca.


Chùa tọa lạc ở số 117 đường Phan Bội Châu, phường Thống Nhất, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk. Chùa thường được gọi là chùa Lớn hay chùa Tỉnh, hướng mặt Tây Nam, nhìn xuống suối Đốc Học.

Khải Đoan là ngôi chùa Sắc tư cuối cùng của nhà Nguyễn, là ngôi chùa đầu tiên của tổ chức Phật giáo thời kỳ Chấn hưng Phật giáo Việt Nam ở Tây Nguyên, vùng đất Hoàng triều cương thổ thời Bảo Đại.
Chùa do Đoan Huy Hoàng thái hậu Hoàng Thị Cúc (chính phi của Vua Khải Định) cùng một số Phật tử phát tâm xây dựng và hiến cúng cho Giáo hội Tăng già Trung Việt. Hòa thượng Thích Trí Thủ cử trưởng tử là thầy Thích Đức Thiệu chỉ đạo việc xây cất chùa trên khu đất rộng gần 7mẫu 8sào 28m2 và làm trụ trì đầu tiên. Năm 1951, chùa xây phần hậu tổ và nhà giảng, đến năm 1953 xây chánh điện. Tên Khải Đoan là ghép từ hai chữ Khải Định - Đoan Huy.



Mặt tiền chùa

Ngôi chánh điện có mặt bằng hình chữ nhật (16m x 20m), chia làm hai phần. Nửa phần trước mang kiểu dáng cung đình Huế với cấu trúc cột kèo theo kiểu nhà rường, mái chồng diêm, kết hợp với phong cách nhà dài dân tộc Tây Nguyên. Nửa phần sau xây theo lối hiện đại. Bờ nóc chùa trang trí lưỡng long chầu nguyệt. Giữa hai mái, mặt trước có bảy tấm phù điêu minh họa sự tích đức Phật Thích Ca.
Chánh điện gồm năm gian thờ 6 vị Phật và Bồ tát (bằng đồng). Gian giữa tôn trí tượng đức Phật Thích Ca (tượng cao 1,8m). Trước tượng Phật Thích Ca đặt tháp ngọc Xá lợi Phật được tôn thờ vào ngày 18-4-2001 (25-3 năm Tân Tỵ), tượng đức Phật A Di Đà. Hai bên tôn trí tượng bốn vị Bồ tát Quan Âm, Thế Chí, Văn Thù và Phổ Hiền.
Tượng đức Phật Thích Ca và tượng bốn vị Bồ tát bằng đồng được chùa đặt đúc tại Đồng Nai và đã tổ chức trọng thể lễ an vị vào ngày 25-10-2003 (01-10 năm Quý Mùi).




Trung tâm điện Phật có treo tấm biển chạm trỗ công phu, giữa có ghi tên chùa bằng chữ Hán mạ vàng : Sắc Tứ Khải Đoan Tự, bên trái có hàng chữ nhỏ : Bảo Đại Quý Tỵ Niên Xuân Cát Nhật, do các nghệ nhân Huế tôn lập. Trong chánh điện còn có một quả đại hồng chung nặng 380 kg do Thái tử Nguyễn Phúc Bảo, pháp danh Tâm Ấn cúng, được các nghệ nhân phường Phường Đúc (Huế) thực hiện ngày 15-12 năm Quý Tỵ (19-01-1954), đường nét chạm khắc tinh xảo. Thân chuông cao 1,15m, chu vi đáy 2,70m ; quai chuông là một đôi rồng liền thân, miệng ngậm hạt châu. Phần trên thân chuông ghi bốn chữ Hán : Khải Đoan Chung Tư.




Đại hồng chung


Đài Di Đà


Đài Quan Thế Âm


Nhà thờ linh cốt


Hội trường, Thư viện và Văn phòng BTS Phật giáo tỉnh


Ngày rằm tháng 3 năm Nhâm Thìn 2012 Đại lễ Đặt đá Trùng tu Chùa



_________________
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
Toc Trang
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 10 6 2008
Số bài: 1767

Bài gửiGửi: Sáu 4 06, 2012 8:41 pm    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này



















Buổi lễ rất long trọng, có sự hiện diện của đại diện quý Hòa thương, chư Tăng, Ni và hàng ngàn Phật tử trong, ngoài Tỉnh về tham dự ... [Khán đài chính]




_________________


Được sửa bởi Toc Trang ngày Bảy 4 14, 2012 8:55 pm; sửa lần 1.
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
Toc Trang
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 10 6 2008
Số bài: 1767

Bài gửiGửi: Bảy 4 07, 2012 9:59 pm    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này


Hàng trăm lẵng hoa của các đoàn và các nơi xa, chúc mừng ...





Cây Bồ đề được nhận từ Ấn Độ, mới trồng ...


Nơi hành lễ ...








_________________


Được sửa bởi Toc Trang ngày CN 4 08, 2012 8:18 pm; sửa lần 4.
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
Toc Trang
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 10 6 2008
Số bài: 1767

Bài gửiGửi: Bảy 4 07, 2012 11:47 pm    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này


Link



Phật Giáo Việt Nam
Tác giả: Lê Cao Phan


Phật Giáo Việt Nam thống nhất Bắc Nam Trung từ nay
Một lòng chúng ta tiến lên vì đạo thiêng
Nào cùng vui trong ánh đạo vàng rạng ngời bốn phương
Vang ca đón chào Phật Giáo Việt Nam

Noi tấm gương Ngài Thích Ca giải thoát chúng sanh
Chúng ta dốc lòng nguyện cùng gieo rắc quanh mình
Bao mối vui lành tràn lan hòng tan đau đớn
Chắp tay ta cùng dưới Đài sen thắm kết đoàn

Phật giáo Việt Nam thống nhất Bắc Nam Trung từ nay
Nào cùng nắm tay kết nên một Đài sen
Cùng làm sao cho đóa sen ngời đời đời ngát hương
Muôn phương thấm nhuần Phật Giáo Việt Nam


Lược sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

Đức Phật Thích Ca Thích Ca Mâu Ni
Đức Phật Thích ca nguyên tên là Tất đạt đa. Họ Ngài là Thích ca, một chi nhánh của họ Kiều tất la, là một quý tộc. Tên Ngài nói đủ là Kiều tất la Thích ca Tất đạt đa (Kosala akya Siddhrtha). Còn Mâu ni là đức tính trong sạch, vắng lặng của Ngài, chỉ là tiếng để khen ngợi.

Cha : vua Tịnh Phạn
Mẹ : hoàng hậu Ma gia
Dì : Ma ha ba xà ba đề
Vợ : Da du đà la
Con : La hầu la

I. VÀI NHẬN ĐỊNH KHI HỌC LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT

1. Ngài là một vị Đại Bồ tát ra đời vì bản nguyện độ sanh, vì lẽ đó, lịch sử của Ngài có tính cách siêu việt hơn người thường.

2. Vì lòng từ bi lợi tha và tự chủ trong sự thọ sanh, nên mỗi cử động trong đời Ngài đều hướng về sự giáo hóa trên đường giải thoát.

3. Nên nhận rõ ý nghĩa của lịch sử hơn là câu nệ từng chi tiết nhỏ.




II. THÂN THẾ CỦA NGÀI

Đức Phật Thích ca nguyên tên là Tất đạt đa. Họ Ngài là Thích ca, một chi nhánh của họ Kiều tất la, là một quý tộc. Tên Ngài nói đủ là Kiều tất la Thích ca Tất đạt đa (Kosala akya Siddhrtha). Còn Mâu ni là đức tính trong sạch, vắng lặng của Ngài, chỉ là tiếng để khen ngợi.

Ngài là con vua Tịnh Phạn nước Ca tỳ la vệ (Kapilavastu), mẹ Ngài là Hoàng hậu Ma da. Nước Ca tỳ la vệ tức là xứ Pipaova ở phía Bắc thành Ba la nại (Bénares) ngày nay.

III. NGÀY VÀ CHỖ SINH CỦA NGÀI

Thái tử sinh lúc mặt trời vừa mọc, nhằm ngày trăng tròn tháng hai Ấn Độ, tức là ngày mồng tám tháng tư lịch Tàu. Ngài sinh vào khoảng 563 năm trước Tây lịch. Theo tục lệ Ấn Độ đàn bà có chồng lúc sinh nở phải trở về nhà cha mẹ. Bà Hoàng hậu Ma da trở về ngang qua vườn Lâm tỳ ni của vua Thiện Giác thì sinh Ngài dưới cây vô ưu. Khi mới sinh, Ngài đứng trên hoa sen, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, miệng nói: "Trên trời dưới trời chỉ một mình ta là lớn."

IV. TƯỚNG MẠO VÀ TÀI NĂNG CỦA THÁI TỬ

Thái tử sinh ra có nhiều điềm lạ: quả đất rung động, vừa sinh ra Ngài đã đi bảy bước,... mọi người đều hân hoan đón mừng vị cứu tinh xuất hiện. Thái tử sinh ra đã có 32 tướng tốt báo trước Ngài là một vị xuất chúng và Ngài sẽ thành Phật để dìu dắt muôn loài. Ngài sinh ra vừa được bảy ngày, mẹ Ngài từ trần. Bà dì Ngài là bà Ma ha Ba xà ba đề nuôi nấng chăm sóc Ngài. Ngài rất thông minh, các vị giáo sư danh tiếng dạy Ngài đều phải bái phục.

V. ĐỜI SỐNG CỦA THÁI TỬ

Thái tử sống trong cảnh cực kỳ sung sướng và được sự nuông chiều hết sức của vua cha. Xung quanh Ngài luôn luôn có vũ nữ ngày đêm đờn ca xướng hát để làm vui lòng Ngài. Tuy nhiên, Thái tử vẫn trầm tư mặc tưởng. Trên mặt luôn luôn lộ nét buồn kín đáo và, một đôi khi Ngài đã tỏ với vua cha xin đi xuất gia để tìm phương cứu mình, cứu đời. Đoán biết ý con, vua Tịnh Phạn sinh sợ sệt và tìm đủ mọi cách tăng thêm dục lạc, mong làm khuây được chí nguyện xuất gia của Ngài.

VI. CHÍ NGUYỆN XUẤT GIA CỦA THÁI TỬ

Sau nhiều lần mục kích những thảm trạng già, đau, bệnh, chết và sự bất công mạnh hiếp yếu, khôn lấn dại, trong những cuộc du ngoạn ở bốn cửa thành. Thái tử Tất đạt đa cảm nhận được những nỗi thống khổ của con người. Lòng thương chúng sanh bồng bột nổi dậy, Thái tử không còn vui được nữa.

Với một ý chí cương quyết tìm chân lý, nên trong một đêm kia sau buổi yến tiệc linh đình, Ngài đã cưỡi ngựa Kiền Trắc vượt thành xuất gia với tên hầu cận trung thành Xa nặc; giữa lúc mọi người đang chìm trong bóng tối và mê man theo giấc ngủ. Ngài ra đi lúc 19 tuổi, ngày mồng tám tháng hai vào lúc giữa đêm.




VII. TÌM CHÂN LÝ VÀ CON ĐƯỜNG ĐẠO PHÁP

Đi sâu vào rừng đến bờ sông Anoma, Ngài cắt tóc và thay đổi y phục trao lại bảo Xa nặc đem về dâng Phụ hoàng và tỏ rõ sự tình. Từ đây, Thái tử đã trở thành một đạo sĩ và dấn thân trên đường tìm đạo. Ngài đi đến thành Vương xá (RajagrÌha) xứ Ma kiệt đà, tìm đến các vị Đạo sĩ Bà la môn mà tham khảo phương pháp tu hành. Sau một thời gian tu luyện, Ngài không thỏa mãn vì cho rằng chưa được rốt ráo. Ngài liền vào rừng Ưu lâu tần loa xứ Phật đà già da (Bouddhagaya) tu hạnh ép xác, một ngày chỉ ăn một hạt mè, hạt gạo và suy nghĩ trong sáu năm, song vẫn thấy vô hiệu. Ngài nhận thấy lối tu khổ hạnh ấy không phải là lối tu giải thoát. Và sau khi nhận bát sữa của nàng Tu xà đề dâng cúng, thân thể bình phục, tâm hồn sảng khoái, Ngài đến dưới gốc cây bồ đề ngồi trên thảm tọa và phát nguyện: "Nếu không tìm ra chân lý thì thà chết ta không rời thảm tọa này". Trải một thời gian thiền quán, Ngài đã chiến thắng được tất cả những tật xấu xa của thân thể và nội tâm. Ngài lại uốn dẹp được mọi sự phá rối của ma vương bên ngoài.

Đầu đêm, Ngài chứng được Túc mạng minh, thấy rõ ràng những đời quá khứ, hiện tại, vị lai; nửa đêm, Ngài chứng được Thiên nhãn minh, thấy được cả vũ trụ bao la; cuối đêm vào lúc sao mai mọc, Ngài chứng được Lậu tận minh, nhận chân nguồn gốc sanh tử luân hồi là sự mê mờ gọi là vô minh, và hoàn toàn giác ngộ.

Ngài đã thành đạo vào lúc sao mai mọc, ngày 8 tháng Chạp. Sau khi thành đạo, Ngài đã than: "Than ôi! Chúng sanh vốn đầy đức tướng trí huệ Như lai, nhưng chỉ vì vô minh che lấp nên phải sanh tử luân hồi đấy thôi!".

VIII. THUYẾT PHÁP ĐỘ SANH

Sau đó, Ngài liền đến vườn Lộc uyển nói pháp Tứ đế độ cho năm ông tỳ kheo (Kiều trần như, Ac bệ, Thập lục ca diếp, Ma ha nam Câu ly và Bạc đề). Từ đó đạo Ngài truyền khắp xứ Trung Ấn Độ và lan mãi khắp hoàn cầu.

IX. NHẬP DIỆT

Trải qua 49 năm trên đường giáo hóa, Ngài đã tận lực gieo rắc ánh đạo vàng khắp đó đây, hóa độ chúng sanh. Vô số người đã được mang ơn pháp nhũ của Ngài mà trở về với chánh đạo. Nhơn duyên đã mãn, những người nên độ đều đã độ xong. Ngài vào niết bàn tại rừng Ta la song thọ, để lại những nỗi thương tiếc tràn ngập cả lòng người. Ngài nhập diệt lúc 81 tuổi, nửa đêm ngày Rằm tháng hai âm lịch.


Cội Bồ đề nơi Đức Phật ngồi tu [ở Ấn Độ]


X. VÀI Ý NGHĨA CẦN NHẬN THỨC TRONG LỊCH SỬ PHẬT

1. Vì lòng từ bi, Ngài ra đời cốt để vạch cho chúng sanh một con đường cao quý ý nghĩa hơn, so với kiếp sống mong manh hiện tại.

2. Tuy sống trang đài danh vọng, Ngài vẫn cảm thấy những nỗi vô vị của vật chất. Và Ngài đã nói rằng: "Hạnh phúc không phải chỉ tìm trong khoái lạc của vật chất".

3. Những cuộc du ngoạn và nhiều lần mục kích những thảm cảnh của con người, Ngài đã cho ta thấy rằng: "Đời là một bể khổ đầy dẫy những bất công, tội lỗi, nếu ta duy trì mãi tình trạng mạnh hiếp yếu, khôn lấn dại, và thiếu một lòng thương thành thật".

4. Ánh sáng có thể trở lại với những tâm hồn vị tha rộng rãi, biết hy sinh dục vọng riêng tư. Và chỉ có chân lý Ngài đã tìm ra, sau bao cuộc thử thách chiến đấu với ma chướng mới là phương pháp cứu khổ độ lạc.

5. Sự hy sinh liên tiếp trong vô số kiếp của Ngài, đã làm cho Ngài trở nên một đức Phật đầy đủ phước đức và trí huệ. Muốn cảm thông và được sức gia hộ của Ngài, chúng ta phải thường niệm đến danh hiệu của Ngài và làm theo lời Ngài dạy.



_________________
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
Toc Trang
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 10 6 2008
Số bài: 1767

Bài gửiGửi: Năm 4 12, 2012 8:43 pm    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này


Link



Link



_________________
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
Toc Trang
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 10 6 2008
Số bài: 1767

Bài gửiGửi: Bảy 4 14, 2012 1:17 am    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này


Tượng Phật Bà Quan Âm tại chùa Linh Ứng (Bán đảo Sơn Trà)


Tháng giêng / 2012



_________________
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
Toc Trang
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 10 6 2008
Số bài: 1767

Bài gửiGửi: CN 4 29, 2012 10:38 pm    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này


Link



_________________
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
phale
HS SaoMai


Ngày tham gia: 19 7 2008
Số bài: 448

Bài gửiGửi: Hai 9 03, 2012 8:41 am    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này



Chùa Một Cột (Diên Hựu Tự)

Chùa Một Cột nằm giữa lòng thủ đô Hà Nội, có nguồn gốc từ một giấc mơ lành của vua Lý Thái Tông (1028 - 1054). Theo truyền thuyết, vào năm 1049, một hôm nhà vua nằm mộng thấy Phật Quan Âm dắt Vua lên tòa sen. Tỉnh giấc, vua đem việc ấy hỏi các quần thần, trong đó có các nhà sư đạo cao đức trọng. Sư Thiền Tuệ khuyên vua xây chùa, dựng cột đá giữa ao, đặt tòa sen của Phật trên cột như đã thấy trong chiêm bao.


Tựa đài sen trên hồ
Chùa xây chỉ có một gian gọi là Liên Hoa đài (đài hoa sen) nằm trên một cột đá ở giữa hồ nhỏ gọi là Linh Chiểu tỉnh, nên được gọi là chùa Nhất Trụ (một cột). Ở chùa Long Đọi (Nam Hà) có một tấm bia còn ghi lại sự tích này: "Đào hồ Linh Chiểu, giữa hồ vươn lên một cột đá, đỉnh cột nở đóa hoa sen nghìn cánh, trên sen dựng tòa điện màu xanh. Trong điện đặt pho tượng Quan Âm. Vòng quanh hồ là dãy hành lang. Lại đào ao Bích Trì, mỗi bên đều bắc cầu vồng để đi qua. Phía sân cầu đằng trước, hai bên tả hữu xây tháp lưu ly".

Chùa nằm trong khu vườn Tây Cấm thuộc thôn Thạch Bảo, huyện Vĩnh Thuận, kinh thành Thăng Long. Khi chùa được khánh thành, các Sư chay đàn, tụng kinh cầu cho Vua sống lâu. Vì thế chùa còn có tên là Diên Hựu (kéo dài cõi phúc).

Hằng năm cứ đến ngày mùng 8 tháng 4 âm lịch, nhà vua lại tới chùa làm lễ tắm Phật. Các nhà sư và nhân dân kinh thành Thăng Long cùng dự lễ. Sau lễ tắm Phật là lễ phóng sinh, Vua đứng trên một đài cao trước chùa thả một con chim bay đi, rồi nhân dân cùng tung chim bay theo trong tiếng reo vui của một ngày hội.





Đến năm 1105, vua Lý Nhân Tông cho sửa ngôi chùa, trước sân dựng một ngọn bảo tháp. Năm 1108. Ỷ Lan phu nhân sai đúc một cái chuông rất to, nặng một vạn hai nghìn cân, đặt tên là "Giác thế chung" (Quả chuông thức tỉnh người đời). Đây được xem là một trong “tứ đại khí” - bốn công trình lớn của nước ta thời đó - là : tháp Báo Thiên, chuông Qui Điền, vạc Phổ Minh và tượng Quỳnh Lâm. Giác thế chung đúc xong nặng quá không treo lên được, để dưới mặt đất thì đánh không kêu. Người ta đành bỏ chuông xuống một thửa ruộng sâu bên chùa Nhất Trụ, ruộng này có nhiều rùa, do đó có tên Quy Điền chung (chuông ruộng rùa). Đến thế kỷ XV, giặc Minh xâm lược nước ta, chiếm thành Đông Quan (Hà Nội). Năm 1426 Lê Lợi đem nghĩa quân Lam Sơn ra đánh, vây thành rất gấp. Quân Minh thiếu vũ khí đạn dược, tướng Minh là Vương Thông bèn đem phá chuông Quy Điền lấy đồng. Quân Minh thua, đất nước ta lại được hưởng nền thịnh trị thái bình nhưng chuông Quy Điền thì không còn nữa.


Chùa Một Cột
Chùa Một Cột được trùng tu vào khoảng những năm 1840-1850 và vào năm 1922. Đài Liên Hoa chúng ta thấy hiện nay được làm lại năm 1955. Đài hình vuông, chiều dài mỗi cạnh 3m, mái cong, dựng trên cột cao 4m, đường kính 1,20m gồm 2 trụ đá ghép chồng lên nhau liền thành một khối. Tầng trên là là một khung gỗ kiên cố đỡ ngôi đài với mái ngói, bốn góc uốn cong, trên có lưỡng long triều nguyệt. Hình dáng ngôi chùa như một đóa hoa sen vươn thẳng lên khu ao hình vuông được bao bọc bởi hàng lan can làm bằng những viên gạch sành tráng men xanh. Đi qua ao theo lối nhỏ lát bằng gạch, ta sẽ đến một cầu thang dẫn lên Phật đài có một tấm biển bằng chữ Hán đề trước cửa: Liên Hoa Đài.

Thiền sư Huyền Quang đã có thơ vịnh chùa Diên Hựu :

Đêm thu chùa thoảng tiếng chuông tàn
Phong đỏ, trăng ngời, sóng nguyệt tan
In ngược hình chim, gương nước lạnh
Sẫm đô bóng tháp, ngón tiêu hàn.

(Huệ Chi dịch)

Hoa sen lúc mới nở đã có "quả" lại có "nhân" tượng trưng cho giáo lý nhà Phật. Hoa sen cũng là loài hoa tinh khiết, giữa trần gian mà chẳng nhuốm mùi tục lụy. Chùa Một Cột, vì lẽ đó, là biểu tượng của cõi Thiền "bất nhiễu", "vô ưu". Gắn liền với lịch sử thủ đô, đó cũng là biểu tượng của Hà Nội ngàn năm văn vật.


Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng » Góc phố sưu tầm Thời gian được tính theo giờ EST (U.S./Canada)
Trang 1 trong tổng số 1 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Powered by SaoMaiDaNang © Nho'm SaoMai DaNang
Designed for SaoMaiDanang - Nam cuoi cung cua truong SAO MAI