Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng
Đăng Nhập Đăng ký Trợ giúp Thành viên Tìm kiếm Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng

KỂ CHUYỆN- CÁC ĐỜI VUA NHÀ NGUYỄN.
Chuyển đến trang 1, 2  Trang kế
 
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng » Văn Hoá - Khoa Học & Kỹ Thuật
Xem chủ đề cũ hơn :: Xem chủ đề mới hơn  
Tác giả Thông điệp
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Tư 10 22, 2008 8:49 pm    Tiêu đề: KỂ CHUYỆN- CÁC ĐỜI VUA NHÀ NGUYỄN. Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

GIA LONG (1802 -1820)


NHỮNG HUYỀN THOẠI và NHỮNG CƠ MAY XÂY DỰNG NGHIỆP ĐẾ

Gần 150 năm (1802 -1945) - 13 vị Vua Triều Nguyễn được mở đầu từ Nguyễn Ánh. Suốt 1/ 4 thế kỷ, Nguyễn Ánh đã trải qua vô vàn gian nan để xây dựng Vương nghiệp.

Bị Tây Sơn lùng đuổi ráo riết, Nguyễn Ánh chạy trốn ra đảo Phú Quốc, có lúc trôi dạt về Cà Mau, có khi lang bạt tận Xiêm La. lắm lúc lương thực không còn, phải ăn trái cây, bốc cơm nguội, mắm ruốc ... Thế nhưng số phận vẫn ưu đãi Nguyễn Ánh, phò trợ ông thoát hiểm nguy, thu giang sơn về một mối.

Những cơ may nào đã cứu Nguyễn Ánh?

Vào những lần ông chuẩn bị ra khơi, có lúc một con cá nhỏ nhảy tung vào thuyền, cũng có lúc một bầy rắn đội thuyền lên, lại có lúc bị một con kỳ đà "cản mũi".... Những lần đá được coi như là "điềm xấu xuất hành" làm Nguyễn Ánh và quan quân chùn chân. Nhưng không ngờ, nhờ như vậy mà ông đã thoát hiểm, không bị Tây Sơn chặn bắt ngoài biển.

Tháng 7 /1783, Nguyễn Ánh đang bị quân Tây Sơn vây bủa ở Côn Lôn. May thay giông tố nổi lên, sóng biển dữ dội, thuyền Tây Sơn bị đắm, Nguyễn Ánh mới thoát .

Cũng năm 1783, bị Tây Sơn rượt đuổi, Nguyễn Ánh lội qua sông Đặng (Vàm Cỏ) gặp cá sấu, ông vội nhảy lên một con trâu trên bờ cỡi qua. Nước chảy xiết, trâu suýt bị chìm. May nhờ một con cá sấu khác đỡ trâu lên. Ông thoát được, lên bờ kia.

Đó là một số truyện kỳ dị như huyền thoại. Vượt qua tất cả những gian khổ trong chinh chiến, những cơ may đã đưa Nguyễn Ánh lên ngôi Vua, trở thành Thế Tổ Cao Hoàng Đế - GIA LONG - đăng quang ngày 12/5/1802.

GIA LONG và NHỮNG ÂN OÁN TRONG ĐỜI.

-Trả thù TÂY SƠN:
Trong dịp "mừng công" (1802) Gia Long đã tổ chức lễ "Hiến Phù" như người xưa bằng cách cho dẫn Vua, tôi Tây Sơn đến trước bàn thờ Tổ tiên mình để hành quyết .

Đầu tiên, Gia Long buộc Quang Toản mở mắt chứng kiến cảnh phơi bày thi thể Quang Trung và những người thân bốc từ huyệt mộ lên. Bỏ những bộ hài cốt vào một cái giỏ lớn rồi cho quân sĩ đi tiểu vào đó. Giã nát tất cả hài cốt thành bột rồi đem dí sát vào mắt Quang Toản. Sau khi khủng bố tinh thần, Gia Long cho Quang Toản ăn một bữa cơm ngon rồi bịt mồm, tất cả gia đình Quang Toản bằng giẻ rách để khỏi kêu la. Tay chân Quang Toản bị căng vào chân 4 con voi. Dưới sự điều khiển của 4 tên nài, 4 con voi đã xé nát thân thể Quang Toản làm 4 mảnh, ruột gan bầy nhầy, thịt da được róc thành 5 phần, đem phơi bày 5 chợ khắp kinh thành để răn đe quần chúng còn bụng dạ theo Tây Sơn.

Sau Quang Toản là xử Thiếu Phó Trần Quang Diệu. Nhờ là người con chí hiếu với mẹ già nên Trần Quang Diệu được hưởng đặc ân là chỉ bị chặt đầu. Tiếp theo là xử cô con gái của Thiếu Phó. Cô bé xinh đẹp , mới 14, 15 tuổi-hãi hùng kêu thét lên khi bị vòi voi quấn: "Mẹ ơi! Cứu con với".

Bà mẹ - nữ tướng Bùi thị Xuân - nhìn con và cao giọng: "Con ơi ! hãy can đảm chết với cha con hơn là sống với bè lủ lang sói kia". Con voi tung cô bé lên trời 2 lần rồi lấy cặp ngà nhọn hoắt để hứng tấm thân yêu kiều ... máu phun lai láng!.

Nữ tướng Bùi thị Xuân sau khi chứng kiến cái chết thê thảm của chồng và con gái, bà vẫn bình tĩnh, hiên ngang đi thẳng đến con voi sắp giết mình. Bọn lính hô: "Quỳ xuống!" Bà vẫn ung dung. Con voi không dám tiến đến. Cuối cùng bị bọn quản tượng kích thích, con voi mới quấn tấm thân bà tung lên .... phải 3 lần tung hứng - Nữ tướng mới tắt thở.

Riêng Mẹ con bà Công chúa Lê Ngọc Hân (vợ của Quang Trung) thì đã nhanh chân chạy trốn vào Quảng Ngãi sau khi Phú Xuân bị Gia Long tái chiếm. Nhưng tay chân của Gia Long đã bắt được bà và hai con. Bắc cung Hoàng Hậu Lê Ngọc Hân đã phải tự tử chết, hai người con thì bị thắt cổ.

Có một điều ngang trái là Lê NGọc Bình (em gái Lê Ngọc Hân, con Vua Lê Hiển Tông) - lúc bấy giờ là cô vợ trẻ của Quang Toản lại được Gia Long "chiếu cố". Bởi vì khi Phú Xuân thất thủ, Lê Ngọc Bình bị kẹt lại và Nguyễn Ánh đã ngây ngất trước vẻ đẹp sắc nước hương trời của Ngọc Bình, quyết định chiếm đoạt và phong cho nàng làm Đệ Tam cung. Như thế, Ngọc Bình có hai đời chồng đều làm Vua. Dân gian đã đặt câu ca:

"Số đâu có số lạ lùng.
Con Vua mà lấy hai chồng làm Vua
"




Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Năm 10 23, 2008 12:05 am    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này



GIA LONG đối xử với công thần:

Qua hơn 25 năm chinh chiến với Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng Đế được là nhờ phần lớn trung thần đồng cam cộng khổ. Họ là những người phò GIa Long từ những ngày đầu tranh bá đồ vương với Tây Sơn, hoặc bỏ Tây Sơn đi theo Gia Long. Trong số đó, nổi bậc có các ông: Nguyễn văn Thành, Lê văn Duyệt, Đặng Trần Thường...Vì những uẩn khúc đau thương, Nguyễn văn Thành và Đặng Trần Thường thì bị giết lúc gia Long còn đang trị vì. Còn Lê văn Duyệt thì bị vua Minh Mạng " hồi tố " rồi quật mồ.

Nguyên, Nguyễn văn Thành văn võ kiêm toàn, đang giữ chức Tiền quân Đô Thống. Lê Văn Duyệt xuất thân từ một hoạn quan, nhưng lập được nhiều chiến công hiển hách, được làm Tả quân Đô Thống. Hai người đồng thờ một vua nhưng không đồng lòng, thậm chí đôi lúc còn tỏ ra căm ghét nhau, mưu hại nhau. Gia Long khéo trọng dụng cả hai nên họ giữ được hòa khí.

Chuyện gì phải đến đã đến. Một hôm, con trai của Nguyễn văn Thành là Nguyễn văn Thuyên -giao du rộng, đỗ cử nhân nhưng chưa ra làm quan, đã làm một bài thơ chữ Hán gửi cho hai người bạn tâm đắc ở Thanh Hóa mới vào chơi. Bản dịch bài thơ như sau:

Ái Châu nghe nói lắm người hay.
Ao ước cầu hiền đã bấy nay.
Ngọc phát Kinh sơn tài sẵn đó.
Ngựa kỳ ký Bắc biết lâu thay.
Mùi hương hang tối xa ngàn dặm
Tiếng phượng gò cao suốt chín mây.
Sơn tề phương nầy dù gặp gỡ.
Giúp nhau xoay đổi hội cơ nầy.


Tên đưa bài thơ đi là thuộc hạ của ông Duyệt cài vào phủ ông Thành. Nó bẩm báo và đưa cho ông Duyệt xem. Lê văn Duyệt bèn vào tâu với vua Gia Long, đề nghị nhà vua trừng trị "ý Đồ" phản nghịch của cha con Nguyễn văn Thành. Vua Gia Long xem bài thơ và cho rằng: đây chỉ là lời lẻ ngông nghênh vô ý thức của chàng trai trẻ Nguyễn văn Thuyên nên bỏ qua.

Lê văn Duyệt sai tên thuộc hạ đem bài thơ ra hù dọa ông Thành. Nhưng ông nầy khẳng khái cho bắt cả con ông lẩn tên thuộc hạ giao cho dinh Quảng Đức tra khảo. Suốt mấy ngày bị đánh đau, Thuyên không chịu nổi, khai bừa là có âm mưu tạo phản. Thế là cánh của ông Duyệt tha hồ tố cáo ông Thành. Ngài Tiền quân Đô Thống uất quá, níu áo Gia Long van khóc: " thần theo Bệ hạ từ xưa nay, không có tội tình gì. Lẽ nào Bệ ha5ngo6i2 yên cho họ đặt chuyện hại thần ? "Vua Gia Long dứt áo không nghe, cấm Nguyễn văn Thành vào triều và sai Lê văn Duyệt tra khảo một lần nữa. Nguyễn văn Thuyên lại nhận tội. Vua Gia Long cho bắt giam Nguyễn văn Thành để đình thần luận tội.

Từ trong ngục tối, Nguyễn văn Thành nghe nói -bản án tử hình đã được vua Gia Long phê chuẩn, liền làm một bài biểu trần tình. Trong đó có câu: Quân xử thần tử, thần bất tử, bất trung, rồi uống thuốc độc chết. Khi Gia Long đọc được bài biểu thì ông Nguyễn văn Thành đã hóa ra người thiên cổ. Nhà vua tỉnh ngộ thì trung thần đã không còn.

Đặng Trần Thường trốn Tây Sơn theo phò tá Gia Long từ thuở xa xưa. Ông có tài Văn học, cùng bạn học nhưng khác chí hướng với Ngô Thời Nhậm, khi thắng Tây Sơn, bắt được Ngô Thời Nhậm, Đặng Trần Thường đã ra câu đối:

-"Ai công hầu , ai khanh tướng, trong trần ai, ai dễ biết ai?".

Ngô Thời Nhậm đã đối lại:

-"Thế Chiến quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế "!

Cặp đối chan chát.

Lúc Đặng Trần Thường làm Binh Bộ thượng thư, vì làm giả sắc phong thần cho Hoàng Ngũ Phúc mà bị triều thần kết tội chém, nhưng được Gia Long tha. Sau vì Lê Chất có hiềm khích với Đặng nên tìm bới những tội khác Thường lại bị bắt giam. Trong ngục, Thường mỉa mai bọn quan lại nên lần nầy bị kết án xử giảo.





Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Năm 10 23, 2008 1:57 am    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

GIA LONG và CÁC VƯƠNG PHI.

Vua Gia Long có hai bà vợ được phong Hoàng Hậu.
Bà chính là: Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu, mẹ của Hoàng Tử Cảnh.
Bà thứ hai là: Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu, mẹ của Hoàng Tử Đảm (Vua Minh Mạng).

Vua Gia Long cưới bà Thừa Thi6n năm 18 tuổi và lập làm Nguyên Phi. Gia Long rất mực yêu thương bà nầy vì nhân cách, đức hạnh. Bà rất đau lòng mà gạt nước mắt khi đưa Hoàng Tữ Cảnh mới 4 tuổi sang Pháp làm con tin xin cầu viện. Không chỉ tin yêu và chung thủy với chồng, hết lòng hầu hạ mẹ chồng (Bà Thiếu Khương -mẹ của vua Gia Long)Bà Thừa Thiên còn có lúc thay chồng lãnh đạo ba quân chống Tây Sơn. Bà mất trước Gia Long 5 năm (1815), được chôn trên nền đất và nằm sóng đôi với mộ vua Gia Long ở Thiên Thọ Sơn.

Bà vợ thứ ba là Công Chúa Lê Ngọc Bình, được phong làm Đệ tam cung (như đã nói ở phần trước).

Ngoài ba bà trên ra, Gia Long cũng như các vị vua khác, có rất nhiều vợ (trên 100 cung phi, mỹ nữ). Tuy nhiên trong số các bà, cũng có những nàng cung phi bất hạnh vì chẳng bao giờ được nhà vua "chiếu cố " từ ngày được đưa vào cung cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay. Đó là nổi đau đớn và phiền muộn của số phận người cung nữ mà Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều đã miêu tả trong "Cung oán ngâm khúc ":

-Buồn mọi nổi lòng đà khắc khoải.
Ngán trăm chiều bước lại ngẩn ngơ.
Hoa này bướm nở thờ ơ.
Để gầy bông thắm, để xơ nhị vàng....."


GIA LONG VỚI -GIẤC NGỦ NGHÌN THU.

Gia Long Nguyễn Phúc Ánh sinh năm Nhâm Ngọ 1762, lên ngôi năm 1802, mất năm 1820, trị vì được 18 năm, hưởng thọ 58 tuổi.

Gia Long bị bệnh trở nên trầm trọng từ cuối tháng 1 /1820. Trước sự chứng kiến đông đủ của các Hoàng thân, đại thần Gia Long để di chiếu lại, truyền ngôi cho Hoàng Tử Đảm. Chừng nửa tháng sau, ngày 19 tháng Chạp (3 /2 /1820)Nhà Vua băng hà. Thi thể nhà vua được tắm gội bằng nước ngũ vị hương, mặc áo hoàng bào, đội mũ cửu long, lưng mang đai ngọc, tay cầm trần quế, chân đi hia. Ngày hôm sau cử hành lễ tiểu liệm, đại liệm rồi nhập tử cung (quan tài).Ngày 5 /2, Thái Tử Đảm ban hành một bản dụ loan báo tang lễ cho quốc dân biết và qui định thời gian để tang cho các tầng lớp dân chúng, quan lại, hoàng tộc. ..

Ngày mồng một tháng giêng năm Canh Thìn (14 /2 /1820) Đình thần tổ chức lễ đăng quang cho Thái Tử Đảm, lên ngôi lấy hiệu là MINH MẠNG.

Gần 4 tháng sau, ngày 24 /5 /1820, vua Minh Mạng mới làm lễ di quan ra khỏi hoàng thành. Suốt 3 ngày long giá trên sông, 7 giờ sáng ngày 26 /5 /1820 long giá mới rước lên bộ nơi chân núi Thiên Thọ. Sáng ngày 28 /5, việc đưa đám mới hoàn tất và tất cả trở lại kinh đô. Năm phát súng lệnh và lá cờ vàng bay phất phới trên kỳ đài báo hiệu vua Gia Long đã yên giấc ngàn thu trên Thiên Thọ Sơn, cách trung tâm thành phố 16 kmtheo hướng Tây Nam.

Lăng Gia Long tọa lạc trên chính giữa ngọn đồi bằng phẳng với phong cảnh
thiên nhiên, sơn thủy hoành tráng mà hữu tình. Trước lăng là ngọn Đại Thiên Thọ làm tiền án. Sau có 7 núi làm hậu án. Mỗi bên phải, bên trái đều có 14 ngọn núi tạo nên thế "tả thanh long, hữu bạch hổ ".Chung quanh lặng, quần thể phần mộ của đại gia tộc như kết liền nhau bởi hai hồ nước và một dòng suối thơ mộng. Tất cả tạo nên vẻ đẹp hùng vĩ mà trữ tình, bình dị, khác xa sự nguy nga tráng lệ của đền đài, lăng tẩm của lớp con cháu ông sau nầy.

(Theo Nguyễn Viết Kế)




Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Năm 10 23, 2008 6:24 am    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này


MINH MẠNG (1820 -1840).


MINH MẠNG ĐĂNG QUANG.

Trước khi mất, Vua Gia Long đã di chiếu cho Hoàng Tử Nguyễn Phúc Đảm nối ngôi. Ngày mồng một tháng giêng năm Canh Thìn (14 /2 /1820) Hoàng Tử Đảm đã đăng quang, đặt niên hiệu là MINH MẠNG.

Trước đó các quan đã cáo với đất trời ở đàn Nam Giao, Xã tắc và các miếu. Riêng Hoàng tử Đảm đã cáo trước án thờ bà Thừa Thiên Cao Hoàng hậu (Mẹ Hoàng Tử Cảnh), rồi vào trình với Đức Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu (mẹ của Hoàng Tử Đảm).

Sáng mồng một tết Nguyên Đán, lễ đăng quang chính thức tổ chức ở điện Thái Hòa. Ở đây thiết đại triều -oai nghi, long trọng. Các Hoàng thân, đại thần, lễ phục chỉnh tề, cờ xí, tăng lọng đủ loại rợp trời. Chung quanh điện Thái Hòa trang hoàng lộng lẫy.

Đầu canh năm, sau 3 hồi trống, trên kỳ đài kéo lên lá cờ vàng rất lớn. Vua Minh Mạng lên kiệu từ điện Cần Chánh ra điện thái Hòa. Sau lưng là võ quan, quân lính hộ tùng rầm rộ. Trong tiếng chuông trống rền vang ở hai nhà Tả, Hữu Đại cung môn, 9 tiếng súng lệnh vang lên, vua Minh Mạng ngự trên ngai vàng đặt chính giữa điện. Hương trầm ngào ngạt. Các quan lớn, nhỏ quỳ lạy 5 lạy rồi nghe đọc Kim sách, hạ biểu chúc mừng. Một vị quan tâu vua dùng ấn ngọc truyền quốc -tượng trưng cho uy quyền và truyền chiếu chỉ. Chiếu chỉ được một vị quan khác đọc lên và sau đó công bố để thần dân biết về lễ đăng quang. Bản chiếu văn sẽ được niêm yết ở Phu Văn Lâu và gửi đi các tỉnh.

Cuối cùng, 9 phát đại bác chào mừng, Vua lên xe giá trở về điện Cần Chánh, các quan sắp xếp hai hàng ùy lạy 5 lạy chúc tụng.

Chiếu theo lệ cũ, sau khi công bố lễ đăng quang, vua Minh Mạng ra chiếu ban ân gồm 10 điều. Trong đó có các điều khoản quan trọng là: Phong chức tước cho các Hoàng Thân, quan lại, giảm sưu thuế cho dân, giảm tội cho phạm nhân, tăng học bổng cho sinh viên, mở rộng hoạt động của trường Quốc Tử Giám.

MINH MẠNG với chùm thơ "CHA TRUYỀN CON NỐI".

Để phân biệt dòng chính, dòng thứ, giữ kỷ cương trong hoàng tộc và bảo đảm trật tự trong Hoàng Gia, vua Minh Mạng sau vài năm lên ngôi, đã sáng tác chùm thơ "Đế hệ thi ' (1 bài) và " Phiên hệ thi " (10 bài). Mỗi bài có 20 chữ (ngũ ngôn)

Đế hệ thi là bài thơ gồm những đầu sẽ đặt tên cho con, cháu, chắt. ..thuộc dòng chính. .. (trực hệ của Minh Mạng)

Miên, Hồng, Ưng, Bửu, Vĩnh.
Bảo, Quý, Định, Long, Trường
Hiền, Năng, Kham, Kế, Thuật
Thế, Thoại, Quốc, Gia, Xương


Như thế, các con trai của Minh Mạng đều có tên bắt đầu bằng chữ Miên: Miên Thẩm, Miên Trinh. ...

Các cháu nội trai của vua Minh Mạng đều có tên bắt đầu bằng chử Hồng: Hồng bảo, Hồng Nhậm. ...

Các chắt nội trai đều bắt đầu bằng chữ Ưng: Ưng Lịch, Ưng Đăng. ..
Cứ thế mà tiếp tục cho đến chữ thứ 20.

Phiên hệ thi là 10 bài thơ do vua Minh Mạng dành tặng cho những anh em ruột của mình (cùng con vua Gia Long).Chẳng hạn bài Phiên hệ thi do vua Minh Mạng tặng cho Định vViễn: quận vương (con thứ 6 của vua Gia Long):

Tịnh, Hoài, Chiêm, Viễn, Ái
CẢnh, Ngưỡng, Mẫu, Thanh, Kha
Nghiễm, Khác, Do, Trung, Đạt
Liêu, Trung, Tập, Cát, Đa


Từng thế hệ con cháu Định Viễn quận vương cũng theo đó mà đặt tên cho mình. Mỗi chữ, mỗi câu trong các bài thơ đều có ý nghĩa tốt đẹp mà vua Minh Mạng chọn lọc.

Sáng tạo nên chùm thơ nầy, vua Minh Mạng có ước vọng, khao khát ngai vàng được bảo đảm " TRuyền tử, lưu tôn " ít nhất 20 đời. Thế nhưng mới đến năm 1945, đời thứ 5 là Vĩnh Thụy (vua Bảo Đại) thì sự nghiệp Cha truyền con nối đã chấm dứt bằng cuộc Cách Mạng tháng Tám. Kể ra thì giấc mơ của vua Minh Mạng cũng khá dài: hơn một Thế kỷ!

MINH MẠNG THANG:

Trong cuộc sống chăn gối đời thường, vua Minh Mạng nổi tiếng là vị vua có sức khỏe dẻo dai, bền bỉ, “bất tri lao”.Có lẽ, nhà vua nhờ vào toa thuốc đặc chế tên gọi là " Minh Mạng thang " chăng ?.

Hưởng dương 51 tuổi, nhưng vua Minh Mạng có đến 142 người con (78 hoàng nam, và 64 công chúa)

Bình nhật, khi nghĩ ngơi, vua có 5 bà vợ hầu hạ: một bà vấn thuốc, têm trầu, một bà quạt, một bà đấm bóp, một bà ru và một bà để sai vặt. Mỗi đêm vua Minh Mạng cho Thái Giám gọi 5 bà vào hầu. Mỗi bà một canh. Hết 5 canh, thì danh sách các bà được chuyển giao cho Tôn Nhơn Phủ giữ để tiện theo dõi việc khai hoa nở nhụy của các bà sau nầy. Hiệu quả "Minh Mạng thang "là" nhất dạ ngũ giao sinh tứ tử ". Quả danh bất hư truyền!

Số vợ của vua Minh Mạng thì đếm không xuể. Có ít nhất 5, 6 trăm bà. Sách: "Minh Mạng chính yếu có chép rằng: " năm Minh Mạng thứ 6 (1826) trong tiết Xuân, tháng giêng, ở kinh kỳ ít mưa, vua thấy hạn lấy làm lo, chỉ dụ cho quan Thượng bảo khanh là ông: Hoàng Quỳnh rằng: Hai, ba năm trở lại đây, hạn hán liên tiếp TRẪM nghĩ từ đâu mà đến thế ?nhưng chưa tìm ra nguyên nhân, hoặc trong thâm cung, cung nữ nhiều nên âm khí uất tắc mà ra vậy ư ?Nay bớt đi, cho ra 100 người, ngõ hầu có thể giải trừ thiên tai vậy ".

Năm, bảy trăm bà vợ thì thật quá kinh khủng. Nhưng so với Tần Thủy Hoàng, có 3000 cung phi, mỹ nữ thì số vợ của vua Minh Mạng có là bao!

Đứng đầu các bà là: Tá Thiên Nhân Hoàng Hậu -HỒ THỊ HOA.

Thứ nhì là: Hiền Phi NGÔ THỊ CHÍNH

Thứ ba là: Lệ Tân NGUYỄN GIA THỊ.

Số còn lại, sắp theo thứ tự các bậc là: tứ giai tân, ngũ giai tiệp dư, lục giai tiệp dư, thất giai quý nhân, bát giai mỹ nhân, cửu giai tài nhân, và tài nhân vị nhập giai (những cô chờ được làm tài nhân). Dưới nữa là: cung nga, thể nữ đồng hạng.

Nhiều cung nữ suốt đời không hề được kề cận vua hưởng ơn mưa móc, dù chỉ một lần. Có một nàng xinh đẹp đã bị chém đầu vì một nụ hôn trộm trên trán vua, lúc Ngài đang ngủ trưa thiu thiu. ...




Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Sáu 10 24, 2008 7:01 am    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này


*MINH MẠNG với GIAI THOẠI VĂN CHƯƠNG .

Minh Mạng cũng là một vị vua sính thơ .Có một số giai thoại Văn chương khá thú vị trong cuộc đời nhà vua

-MINH MẠNG và Cao Bá Quát:

Cao Bá Quát lúc còn là một cậu bé đã rất thông minh vá tinh nghịch .Một hôm nghe vua Minh Mạng ngự giá thân chinh thăm thắng cảnh Hà Nội .Cao Bá Quát chờ đúng lúc kiệu vua đi qua Hồ Tây ,liền xăm xăm nhảy xuống hồ để tắm .Quan quân hốt hoảng ,bắt Cao trói lại .Quát giãy dụa la lối om sòm .Vua truyền lệnh dẫn Quát đến hỏi . Quát khai là học trò nhà quê mới lên tỉnh ,chẳng biết phép tắc ất giáp gì cả .Nghe khai là học trò vua bèn ra câu đối , bắt phải đối lại. Nếu đối được thì tha , bằng không thì bị đòn .Quát ưng chịu .

Vua nhìn xuống hồ nước trong veo, cá từng đàn tung tăng đuổi nhau ,liền ra vế đối :

"Nước trong leo lẻo , cá đớp cá ".

Cao đang bị trói giữa trời nắng gắt, liền đối lại :

"Trời nắng chang chang, người trói người".

Vua Minh Mạng dù phật lòng vì ý nghĩa câu đối xỏ xiên của Quát , nhưng cũng rất phục tài ứng đối nhặm lẹ ,nên truyền cởi trói ,tha cho họ Cao .

-MINH MẠNG và Bà Huyện Thanh Quan :

Bà Huyện Thanh Quan nổi tiếng với tài thơ Nôm ,nên được vua triệu vào HUẾ làm Cung trung giáo tập ,dạy cho các cung phi mỹ nữ .

Một hôm nhân dịp chúc mừng một vị quan lớn của Triều đình, vua Minh Mạng ban ơn bằng cách - viết tặng hai chữ đại tự theo nghệ thuật thư họa . Viết xong vua đưa cho Bà Huyện Thanh Quan xem và hỏi :" Được không ? ". Ngắm nét chữ " rồng bay phượng múa " của nhà vua , Bà Huyện Thanh Quan trả lời :
-Tâu Bệ Hạ ,Phúc tối hậu ,Thọ tối trường ". (Phúc rất dày , thọ rất dài ).

Chợt nghe vua chưa hiểu ý bà - nhưng nhìn kỹ lại chữ của mình ,vua mĩm cười gật đầu .Té ra nhà vua đã viết chữ Phúc béo tròn và chữ Thọ dài ngoẵng !

Bà Huyện Thanh Quan rất đoan trang, đôn hậu ,nhưng " phê" nhà vua rất khéo , hóm hỉnh làm vua cũng thấy thú vị , không giận được .

-MINH MẠNG và việc Cấm quần không đáy :

Năm 1822 ,nhân dịp ra Hà Thành nhận lễ tho5phong của Thiên triều ( Trung Quốc ), vua Minh Mạng khó chịu khi thấy phụ nữ miền Bắc mặc quần một ống , trông chướng mắt .Nhà vua bèn ra lệnh cấm các cô , các bà Bắc hà không đươc mặc quần như thế nữa .Quan quân địa phương đốc thúc lính tráng bắt ép phụ nữ phải thực hiện nghiêm lệnh chiếu chỉ của nhà vua ,Các ngả đường chợ búa đếu có lính canh phòng "quan sát " kỹ....Ai đi chợ , còn mặc váy thì bị đuổi về .Nhân dân Hà thành không chịu nổi cảnh oái oăm đó nên đã phản kháng một cách hài hước ,bằng bài ca dao :

Tháng sáu có chiếu vua ra .
Cấm quần không đáy , người ta hãi hùng .
Không đi thì chợ không đông .
Đi thì phải mượn quần chồng sao đang .
Có quần ra đứng bán hàng
Không quần ra đứng đầu làng trông quan ".


-MINH MẠNG với Lễ Tứ Tuần Đại Khánh :

Năm 40 tuổi , vua Minh Mạng cho tổ chức Lễ Tứ Tuần Đại Khánh một cách rầm rộ,long trọng.Đây là một lễ chúc thọ sinh nhật lớn nhất trong các đời vua triều Nguyễn .Thời gian là 9 ngày ( từ ngày 13 /4 đến 22/4 /1830 ).
Trước ngày lễ , Viện Hàn Lâm lo soạn chiếu báo cáo cho trăm họ biết .Còn bộ Lễ thì tập trung lo phần lễ nghi và tuyển lựa các đoàn tuồng ,múa rối, ca nhạc và các trò chơi giải trí khác. Các Sứ thần của vương quốc Chân Lạp, Nam Chưởng, các thổ ty ở nhiều địa phương đều được mời đén dự. Trong và ngoài hoàng thành trang hoàng lộng lẫy, cờ xí rợp trời. Các nhà quan và thường dân đều treo đèn, kết hoa dựng cổng tam quan. Ban đêm bên dòng sông Hương đều có phóng đăng (thả đèn). Công sở, trại lính đều được nghỉ 3 ngày để vui chơi. Các chợ búa 3 ngày không được sát sinh. Các tỉnh đình chỉ xử án trong 4 ngày.
Vào lúc canh 5 ngày lễ chính, trống nghiêm đổ 3 hồi, điện Thái Hòa rực sáng đèn đuốc. Tờ mờ sáng, chuông trống trên lầu Ngọ Môn vang rền. Dội Đại nhạc trỗi lên. Trên thành phát 9 tiếng súng lệnh lúc vua Minh Mạng ngự ra điện Thái Hòa trong khói trầm hương lan tỏa.
Tất cả bá quan văn võ lạy 5 lạy rồi quỳ xuống nghe đọc ân chiếu rồi dâng biểu và phương vật chúc nừng. Trên 5 cửa thàng bắn 45 phát đại bác (mỗi cửa 9 phát) chúc thọ nhà vua. Khi "Lễ thành", vua vào cung điện thay áo rồi ngự ra điện Cần Chánh nhận lễ chúc thọ của các Hoàng tử. Sau đó, vu ban yến, phẩm vật cho các Hoàng tử, Hoàng thân, Đại thần... Hôm sau vua Minh Mạng tiếp tục ban thưởng cho các đoàn tuồng, nghệ nhân và các quan lại từ tứ phẩm trở xuống.

Suốt các ngày lễ Đại khánh, ban ngày thì có đủ các trò chơi giải trí vui nhộn, hào hứng như hát tuồng, xem tấu nhạc, múa rối, leo dây... ban đêm thì đốt pháo bông, múa hoa đăng cho tất cả quan quân và dân chúng xem. Nhà vua còn bảo các Hoàng tử, các quan lại bộ lễ đi mời các vị bô lão các nơi về dự đại yến trong 3 ngày. Tùy theo tuổi thọ các bậc kỳ lão, tất cả các vị từ 70 tuổi đến 100 tuổi đều được ban thưởng vải, lụa, bạc, nhân sâm... Ai nấy đều hể hả chúc mừng Tứ Tuần Đại khánh.




Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Hai 10 27, 2008 1:34 am    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

THIỆU TRỊ (1840 -1847 )


VƯỜN THƠ THIỆU TRỊ .
Là một vị vua thích làm thơ -và làm khá nhiều thơ vịnh cảnh dù ít có bài nổi tiếng - Vua Thiệu Trị có một hội Tao đàn không chính thức có vẻ ngẩu hứng ,Gồm 18 vị là Hoàng thân và Quan văn triều đình .Trong một lần dạo chơi Vườn Cơ Hạ - vườn do Vua Thiệu Trị xây dựng- Ngài đã làm 14 bài thơ liền ,ca ngợi cảnh sắc " Cơ Hạ viên ". Sau đó nhà Vua yêu cầu các Hoàng thân và các Đại thần ứng họa ,ban cho mỗi người ; bút , giấy , mực để làm thơ ngay trong vườn hoa .Tất cả 18 vị - Vua , tôi - như " thập bát tú " lấp lánh trong vườn thơ Cơ Hạ của Hoàng Cung .

Có lẽ vườn thơ Thiệu Trị đã mở đầu và gợi hứng thú không khí yêu thơ và việc hình thành " Mặc Vân thi xã " (của nhóm Tùng Thiện Vương )," Hương Bình thi xã " (của Ưng Bình Thúc Dạ và Thảo Am nguyễn khoa Vy ) sau nầy .Ngoài 14 bài thơ liền , Vua Thiệu Trị còn ứng chế 8 bài vịnh cảnh Thuận An ,129 bài vịnh về mưu lược dẹp yện Xiêm La , Chân Lạp , 12 bài vịnh dẹp giặc biển , 9 bài Hoàng huấn (lời vua ban dạy ).

*NỖI KHỔ TRUYỀN NGÔI

Trong 7 năm ở ngôi báu , cuộc đời làm Vua của Thiệu Trị không mấy khi thú vị .Điều khổ tâm lớn nhất của nhà vua là người con trưởng sẽ được truyền ngôi - Hoàng Tử hồng Bảo -lại thiếu tài năng , kém đức hạnh .
Một hôm , Vua Thiệu Trị muốn thử thách tài đối đáp của các con ,bèn ra câu đối :"Bắc sứ lai triều ". Hồng Bảo nhanh nhảu đối lại , không cần suy nghĩ :" Tây Sơn phục quốc ". Ai nghe cũng lạnh da gà !.

Vua Thiệu Trị bình tĩnh gượng cười và răn đe :" Tây Sơn mà phục quốc thì cả bà con mi không còn đất mà chôn !Lần sau có đối cũng phải suy nghĩ , giữ gìn ý tứ nghe con " .Hồng Bảo sực tỉnh mới biết mình lỡ lời , vụng miệng ,thẹn với các hoàng đệ vô cùng .

Vua Thiệu Trị quan tâm và thường nhắc nhở Hồng Bảo phải lấy lễ nghĩa mà đối đãi , kính cẩn ,tôn trọng các Thầy của mình .Phải biết tu chí rèn luyện đạo đức và học vấn mới mong thành người có tài , có đức , nối dõi nghiệp đế .Nhưng nghiệt thay :" Sinh con ai há dễ sinh lòng ", chứng nào vẫn tật nấy ,ngày qua tháng lại , Hồng Bảo vẫn sa vào con đường ăn chơi lêu lổng .

Ngày Vua Thiệu Trị lâm trọng bệnh năm 1847 -trong khi mọi người xúc động , lo lắng túc trực bên long sàng thì Hồng Bảo lại la cà nơi Ca lâu .Thiệu Trị đau buồn gọi các đại thần : Trương Đăng Quế , Võ văn Giải , Nguyễn Tri phương vào chầu và di huấn :

- "Ta nối nghiệp lớn đã 7 năm nay , ngày đêm lo lắng không dám thong thả vui chơi ,mấy lâu se mình , hôm nay mệt lắm ! Ta lo cho nghiệp lớn Tổ Tông phó thác cho ta nên ta phải chọn người nối nghiệp để yên xã tắc . Trong mấy người con ta -Hồng Bảo tuy lớn ,nhưng vì thứ xuất ( con bà thứ ) ,mà lại ngu độn ,ít học ,ham chơi ,nối nghiệp không được .Con thứ hai là Phước Tuy Công ( Tự Đức sau nầy )thông minh , ham học , giống in ta -đáng nối nghiệp vua .Hôm trước ta đã phê vào tờ di chiếu để lại trong long đồng .Các người phải kính nơi đó ,đừng trái mệnh ta ".

Sau đó , gọi Hoàng Tử Hồng Nhậm vào để trao ấn kiếm .Hồng Nhậm khóc , nhận lãnh .Hồng Bảo nghe tin vội vào Cung điện ,đến bên giường Vua cha - quỳ xuống tâu :

-" Thánh Thượng đã hứa truyền ngôi cho con .Ai cũng công nhận con là Thái Tử .nay con phạm tội bất hiếu ,xin ơn trời lượng bể tha cho "
Vua Thiệu Trị phán : "Thiên hạ là của Đức Cao Hoàng kế đến Đức Thánh Tổ truyền lại cho ta. Ta đã định truyền lại cho mi ,thường khuyên mi tu tỉnh , thế mà - mi cờ bạc , hát xướng ...Thần khí rất trọng ,ta không thể lấy tình riêng mà bỏ nghĩa chung được ! ".

Hồng Bảo vẫn nấn ná quỳ bên giường -Phạm Thế Lịch cùng Võ văn Giải điệu Hồng Bảo ra hậu cung " cấm cố ".

Ngày 4 /11/ 1847 (27 /9 năm Đinh Mùi ) Vua THIỆU TRỊ mất .Các Đại thần , văn võ bá quan đọc di chiếu truyền ngôi cho : Phước Tuy Công Hồng Nhậm -lấy niên hiệu Tự Đức.

Tát cả mọi người đều ký vào bức di chiếu .Chỉ riêng Hồng Bảo không chịu ký .Sau nhờ đại thần Phạm văn Nghị khuyên bảo nhiều lần Hồng Bảo mới ký .

Cảnh " nồi da xáo thịt " , " răng cắn lưỡi " bắt đầu có mầm mống từ đây .
Đám tang Vua Thiệu Trị để đến 8 tháng mới nhập lăng ( gấp đôi thời gian đám tang Vua Gia Long ).


Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Hai 10 27, 2008 11:47 pm    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

TỰ ĐỨC (1847 - 1883 )

NHÀ THƠ TỰ ĐỨC .

Từ Minh Mạng qua Thiệu Trị đến Tự Đức là một sự phát triển " chất thi sĩ " trong Hoàng Tộc , đặc biệt lá với vua tự Đức .Ông có thể xứng danh là nhà thơ vì sở thích ,năng khiếu và sự nghiệp văn chương .Phải chăng đó là gien di truyền từ đời " ông " tới đời " cháu "?.

Có người đời sau trách vua Tự Đức suốt 36 năm ngự trị ngai vàng chỉ biết tập trung vào việc xướng họa thơ văn .
Trong nước chỉ mê thơ Lý , Đỗ.
Ngoài vòng nào biết chuyện Anh , Nga .
hoặc :
Thành mất không lo , lo chuộc ruộng .
Binh hàn chẳng biết , biết ngâm thôi .

Vau Tự Đức nhạy cảm thơ văn. Những tác phẩm của nhà vua có nội dung phong phú thể hiện kiến thức , khả năng thơ của ông : " Ngự chế thơ văn Thập điều ,Tự học diễn ca ,Luận ngữ diễn ca ...."Vả chăng , thời Tự Đức cũng có rất nhiều vị quan nổi tiếng là văn hay , chữ tốt ,- nhiều đình thần là thi sĩ ( Cao bá Quát , Nguyễn văn Siêu , Nguyễn Hàm Ninh , Nguyễn Công Trứ , Tùng Thiện Vương , Tuy Lý Vương ...)Vua Tự Đức cũng từng tự hào ca ngợi :
Văn như Siêu , Quát vô tiền Hán .
Thi đáo Tùng , Tuy thất thịnh Đường .

Dù đời Tự Đức chính sự rất phức tạp , phiền hà , nhưng sau khi rời việc nước , ông lại thả hồn trong xướng họa , thơ văn .Một số giai thoại Văn chương liên quan đến vua Tự Đức rất thú vị :

*Tự Đức chơi chữ - lỡm các quan thơ :

TRong những lúc thư nhàn , Vua Tự Đức thường say mê đàm luận văn chương với các vị quan thơ .Một hôm Vua Tự Đức cao hứng sáng tác một bài thơ tứ tuyệt bằng chữ Hán rồi đọc cho các quan thơ chép ( thử tài chính tả ):

Tiêu hà tá hán khởi ư phong .
Sấn nhập trùng vi nhiễu tướng trung
Bất luận huân tiêu phàn khoái lực
Hốt văn hàn tín tự tiêu không ."

Các vị quan cứ theo lối suy diễn từ chương , nặng điển tích nên đã hiểu sai nội dung .Ai cũng hiểu bài thơ theo sử Tàu : Tiêu Hà giúp Hán ở Phong Bái ,không dựa vào sức mạnh của Phàn Khoái ,chỉ cần có tài năng của Hàn Tín là thành công .

Thật ra -Vua Tự Đức đã làm một bài thơ để tả ... CON MUỖI . Tiêu hà có nghĩa là tàu lá chuối .Phong là gió , hán là nó , hàn tín là tin lạnh , phàn khoái là hun đốt .Vì vậy , bài thơ có thể dịch để hiểu là :

" Bẹ chuối ,đài sen nối cánh rung
Bay vào màng trướng quấy lung tung
Chẳng cần phải tốn công hun đốt
Tinlanh5 vừa đưa tẩu tán cùng "

Một lần khác , cũng ý đồ chơi chữ để thử thách , Vua Tự Đức đọc cho các quan chép bài thơ sau đây :

" Lâm vũ lâm ly lý lý đường.
Minh minh bỉnh chúc chiếu âm dương
Trì khu thướng há công danh quản
Khứ thủ li bì đắc kỷ cương ".

Các quan lại tưởng -ý bài thơ nói đến những chuyện cao siêu đời Lý , đời Đường qua các từ ngữ :" âm dương , kỷ cương ..."Hóa ra , các quan lại bị vua lỡm , vì bài thơ nhằm tả việc - đi bắt ếch .

" Mưa dầm trầy trợt con đường trong bụi rậm .
Ngọn nước mờ tỏ soi vào những tiếng ì ộp.
Soi lên soi xuống hết các nơi , đánh bắt được đầy xâu
Đem về chặt đầu , lột da được chừng độ mấy niêu "


Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Ba 10 28, 2008 2:12 am    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

*TỰ ĐỨC BỊ CAO BÁ QUÁT chọc quê ;

Nếu Vua Tự Đức đã làm cho các "quan thơ" bị quê bởi hai bài thơ lắt léo ở trên, thì thi sĩ Cao Bá Quát cũng đã chọc quê vua Tự Đức trong một bài thơ vừa chữ Hán vừa chữ Nôm "xuất quỷ nhập thần. Lúc nầy, Cao Bá Quát dù có tài nhưng chưa được vua Tự Đức trọng dụng. Ông chỉ mới làm quan Hành Tẩu trong viện Hàn Lâm. Tuy nhiên, biết tài ông, thỉnh thoảng vua Tự Đức cũng vời ông đến để đàm luận văn chương, thế sự. Một hôm vua Tự Đức "khoe" với Cao Bá Quát rằng : mình nằm mơ, sáng tác được hai câu thơ rất đắc ý, có cả chữ Hán và Chữ Nôm là :

"Viên trung oanh chuyển khề khà ngữ
Dã ngoại đào hoa lấm tấm khai "

Nghe thế, Cao liền nói tỉnh bơ :

-"Muôn tâu, đó là hai câu tam tứ trong một bài thơ Đường luật bát cú mà thần đã nghe từ lâu".

Vua Tự Đức lấy làm lạ vô cùng, bảo đọc Cao liền ứng khẩu đọc ngay :

"Bảo mã Tây phong huếch hoác lai
Huyênh hoang nhân tự thác đề hồi
Viên trung oanh chuyển khề khà ngữ
Dã ngoại đào hoa lấm tấm khai
Xuân nhật bất văn sương lộp độp
Thu thiên chỉ kiến vũ bài nhài
Khề khà thi cú đa nhân thức
Khệnh khạng tương lai vấn tú tài"

TẠM DỊCH :

Ngựa bá theo gió tây huếch hoác đến
Huyênh hoang người tự nguyện theo về
Trong vườn tiếng oanh hót khề khà
Ngoài đồng hoa đào nở lấm tấm
Ngày xuân chẳng nghe xuân lộp độp
Trời thu chỉ thấy mưa bài nhài
Câu thơ khề khà nhiều người biết
Còn khệnh khạng đem hỏi tú tài"

Biết Cao Bá Quát đọc bừa, chế giễu mình, nhưng vua Tự Đức khâm phục "thần thơ" họ Cao.

*THƠ HAY NHƯNG PHẢI CHỊU ĐÒN :

"Răng cắn lưỡi" là chuyện thường tình, nhưng đã trở thành một giai thoại văn chương thú vị, sâu sắc trong đời vua Tự Đức.

Một hôm nọ, vua mở tiệc chiêu đãi hàng trăm quan văn, võ triều đình. Vua vừa ăn vừa nói chuyện thi phú rôm rả, bỗng nhiên vua nhăn nhó kêu lên :

- "Trẫm cắn phải lưỡi đau quá ! Các khanh hãy lấy đó làm đề tài sáng tác một bài thơ. Ai làm nhanh và hay nhất thì được thưởng"

Các quan tuân mệnh, không khí trầm hẳn trong miên man suy nghĩ .... Một chốc sau, thủ khoa Nguyễn Hàm Ninh - vốn hay chữ, ứng đối nhanh, giỏi thơ phú - đứng dậy xin phép được dâng đọc bài thơ tứ tuyệt chữ Hán. Vua cho phép, tất cả lắng nghe ông Thủ Khoa lấy giọng đọc thơ :

"Sinh ngã chi sơ, nhĩ vị sinh
Nhĩ sinh vi hậu , ngã vi huynh
Đồng thời cộng hưởng trân cam vị
Hà nhẫn tương vong cốt nhục tình"

BẢN DỊCH :

"Ta ra đời trước, chú chưa sinh
Chú phận làm em, ta làm anh
Ngọt bùi chẳng nghĩ cùng chung hưởng
Cốt nhục mà sao nỡ dứt tình".

Vua Tự Đức và tất cả các quan đều vỗ tay khen bài thơ thật hay. Thực hiện lời hứa VUA ngậm đắng nuốt cay vì nghĩa bóng của bài thơ, thưởng cho mỗi câu thơ - một lạng vàng - Sau đó, Vua phán :

- Lời thơ rất tuyệt, nhưng ý thơ rất ác (ám chỉ việc Tự Đức giết Hồng Bảo) - Nên phải chịu phạt, mỗi câu bị đánh một roi.

Thế là, làm một bài thơ hay, quá sát với hoàn cảnh của nhà vua Nguyễn Hàm Ninh được nhận thưởng 4 lạng vàng và phải bị 4 roi quắn đít ...

*HIẾU TỬ TỰ ĐỨC :

Vua Tự Đức nổi tiếng là người con chí hiếu. Đám tang của vua THIỆU TRỊ để đến 8 tháng mới đưa - cũng là một cách biểu hiện "hiếu sự" của nhà vua. Chắc chắn vua Tự Đức thấm thía bài ca dao có câu : "Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con" phổ biến trong dân gian. Có lẽ, đây là một quan niệm sống, một cách trị dân, trị nước của ông : "Hiếu vi bách hạnh chi tiên"

Trong mắt vua Tự Đức, Mẫu hậu Từ Dũ là nhất. Đối với Mẹ, Tự Đức nhất mực vâng lời tôn kính, không dám trái ý. Nhà vua luôn luôn cố gắng tỏ ra là một người con hiếu thảo, ngoan ngoãn, thậm chí còn nhỏ dại với mẹ.
Hàng tháng, ngày lẻ thì Ngự triều, ngày chẵn thì vào chầu mẹ, cứ như thế suốt 36 năm trời không hề xao nhãng. Từ việc nhỏ đến việc lớn, từ việc nhà đến việc nước, mọi việc lớn bé thế nào, vua đều thỉnh tôn ý của mẹ. Khi bà Từ Dũ ban câu gì hay, nhà vua đều ghi chép lại gọi là "Từ Huấn lục".

Chuyện kể rằng :

Một lần đi săn ngoài kinh thành, ở rừng Thuận Trực, gặp lúc mưa to gió lớn, nước lụt, Tự Đức muốn về, Bà Từ Dũ nóng ruột, bảo đại thần Nguyễn Tri Phương dẫn quan quân đi đón. Đến gần tối vua mới về đến bến sông. Dù trời đang mưa tầm tã, nhà vua vẫn sai kiệu đi thẳng đến cung lạy mẹ xin chịu tội. Bà nằm xoay mặt vào màn, chẳng nói chẳng rằng. Nhà vua khổ tâm, sai lấy một cây roi mây, đặt trên mâm son dâng lên để trên trát kỷ rồi nằm xuống xin chịu đòn. Chặp lâu, Bà mới xoay mặt ra, hất cây roi rồi nói :

- Thôi, tha cho ! Đi chơi để mọi người lo lắng, quan quân cực khổ thì phải ban thưởng cho người ta, rồi sớm mai đi hầu kỵ.

Tối hôm đó, vua phê thưởng cho các quan quân đi hầu ngự ...

Mặc dầu Vua Tự Đức hết lòng hiếu thảo như thế, nhưng thật là oái oăm và nghiệt ngã : Bi kịch lớn của Tự Đức là sự bất hiếu do không có con "Bất hiếu hữu tam, vô hại vi đại". Có lẽ do ốm yếu bẩm sinh, cùng với bệnh đậu mùa từ nhỏ sinh biến chứng - nên dù có trên 100 bà vợ, vua Tự Đức vẫn tuyệt tự. Nhà Vua phải nuôi ba đứa cháu ruột là : Ưng Chân (con của Hồng Y Thái Thoại Vương ), Ưng Đường và Ưng Đăng (con của Kiến Thái Vương) làm dưỡng tử để kế vị sau nầy.

Hẳn nhiên, mang tiếng Đại bất hiếu là một nỗi bất hạnh lớn của Vua Tự Đức.




Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Tư 10 29, 2008 8:07 am    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

TỪ LOẠN HỒNG BẢO đến giặc chày vôi va VẠN NIÊN CƠ.

Hồng Bảo , anh cả của Hồng Nhậm ( Tự Đức ) đã tức giận , vô cùng thất vọng khi bị Vua Cha truất ngôi .Ông đã đập đầu vào tường đến chảy máu suýt chết . Ông phẩn nộ , không chịu ký vào di chiếu của vua Thiệu Trị truyền ngôi cho Phước Tuy Công . Từ đó ,Hồng Bảo ngày đêm phác họa kế hoạch tính chuyện cướp lại ngôi báu của em .
Năm 1850 , Hồng Bảo đã có chiến dịch vận động giáo dân hổ trợ cho mưu đồ của mình . Ông hứa hẹn rất nhiều điều tốt đẹp sau khi cướp được ngôi . Tuy nhiên , các Cha bề trên khuyên con chiên phải tránh xa những lời dụ dỗ ngọt ngào đó .
Năm 1851 , Hồng Bảo lại cho người liên lạc vượt ra nước ngoài thông đồng với người Tây cầu viện giúp việc " tranh bá đồ vương ". Việc bị bại lộ , đáng lẽ Hồng Bảo bị bỏ ngục nhưng Vua Tự Đức nghĩ tình ruột thịt nên đã tha tội . Hồng Bảo vẫn không từ bỏ tham vọng .
Năm 1853 , ông lại cấu kết với một số quan lại trong triều đình ,sai thuộc hạ sang thông đồng với các nước Cao Miên để âm mưu lật đổ Tự Đức , giành lại ngôi báu .Chẳng may lần này , bọn thuộc hạ liên lạc đã bị Kinh lược sứ Nguyễn Tri Phương tóm gọn . Hồng Bảo hết đường cầu cứu , đã bị tống ngục .Đình thần đã xử án ,kết tội tử hình . Nhưng một lần nữa , Vua Tự Đức lại ân xá ,cho chuyển sang tù chung thân . Tuy nhiên , Hồng Bảo không còn hy vọng gì nữa ,đã thắt cổ tự tử trong ngục .
Con trai của Hồng Bảo là Ưng Đạo bị buộc phải đổi họ , lấy họ mẹ , tên là Đinh Đạo .
Vết thương lòng của vua Tự Đức tưởng đã thành sẹo với thời gian . Bất ngờ , 13 năm sau ( 1866 ) ,lấy cớ phò Đinh Đạo làm vua , anh em Đoàn Trưng , Đoàn Trực , Đoàn Hữu Ái đã gây nên cảnh phản loạn làm Kinh thành HUẾ ngã nghiêng , vua Tự Đức suýt chết .
Đoàn Trưng người gốc huyện Phú Vang - Thừa Thiên - thông minh , học giỏi nên dù chưa đổ đạt gì nhưng đã lọt vào mắt xanh của hai cha con Tùng Thiện Vương ( Miên Thẩm - chú ruột Vua Tự Đức ). Tùng Thiện Vương đã gả con gái cưng và cho Đoa n2 Trưng ở gởi rể trong phủ .
Đoàn Trưng là một thanh niên có tham vọng Chính trị lớn nên đã cùng với hai em kết bạn với : Trương Ngọc Hòa , Phạm Lương thành lập một đảng phái được trá hình dưới danh nghĩa " Sơn đông thi tửu hội " để dễ bề hoạt động . Họ thường tụ họp sinh hoạt tại chùa Pháp Vân , bí mật tung dư luận phò Đinh Đạo làm Minh Chủ để chiêu dụ " đồng chí " và thu mua vũ khí luyện tập .Đoàn Trưng thu phục được quan Hữu quân Tôn Thất Cúc làm nội ứng , một số đội trưởng , suất đội , lính vũ lâm của triều đình , lôi kéo một số nhà sư chùa Pháp Vân theo . Tất cả tiến hành bình thường để chờ thời cơ khởi nghĩa .
Thời cơ đã đến , Đó là lúc binh phu đang xây lăng Vạn Niên Cơ của Tự Đức oán thán bọn Nguyễn văn Chất ,Nguyễn văn Xa - những kẻ chỉ huy của việc xây lăng - đọa đày họ vô cùng khổ sở :
"Vạn niên là vạn niên nào .
Thành xây xương lính ,hào đào máu dân "
Chộp ngay thời cơ ,Bộ chỉ huy của Đoàn Trưng ( chừng 10 người ), vội tổ chức " làm chay " 3 ngày tại chùa Pháp Vân để che mắt triều đình , nhằm tập trung lực lượng khởi nghĩa .
Lúc canh ba ngày 8 /9 năm Bính Dần ( 1866 ) , đội quân của Đoàn Trưng kéo qua Khiêm Lăng ( Vạn Niên Cơ ) kêu gọi ,hô hào binh phu , dân chúng nổi dậy tiêu diệt bọn Chất , Xa . Nguyễn văn Chất vắng mặt ,còn Xa thì bị bắt . Quân dân hưởng ứng đông đảo ( trên 1,000 người ) , được chia thành ba đạo , mang theo đủ loại vũ khí ,đặc biệt là chày giã vôi (nên gọi là giặc chày vôi ) ồ ạt tiến về kinh thành Huế . Trên đường đi không gặp trở ngại gì đáng kể . Nhờ có Tôn Thất Cúc làm nội ứng nên đội quân " chày vôi " vượt qua cửa chính nam vào cửa Ngọ môn dễ dàng .Tiếp tục tiến vào điện Thái Hòa ,đội quân phản nghịch tiến chiếm Duyệt Thị Đường (cạnh chổ vua Tự Đức ở ). Quân Cấm vệ , thụ vệ của nhà vua rút lui dần .May thay cho vua Tự đức ! Vì sự tính toán vụng về của Đoàn Trưng ,cho kiệu đi rước Đinh Đạo lên ngai vàng , nên Chưởng Vệ Long Võ Đình là Hồ Oai tướng công đã khôn khéo , mưu trí ,tập hợp đông đủ lính Cấm vệ , Thái giám , thị vệ ...phản công Hồ Oai cao giọng kêu gọi quan quân triều đình chống trả .Chẳng mấy chốc ,đội quân giặc " chày vôi " bị đánh tan tác , tháo chạy . Đoàn Trưng , ĐoànTrực bị bắt, Đoàn Hữu Ái tự tử , những thủ lĩnh khác cũng bị hốt gọn tại chỗ hoặc tại sào huyệt của chúng . Cuộc " khởi nghĩa " bị dập tắt .
Kết cục , tất cả thủ lĩnh quân phản nghịch đều bị xử " lăng trì ".Đinh Đạo vì bị lôi kéo nên toàn bộ gia đình ( 8 người ) cũng đều bị xử giảo .Ngày xử tử Đinh Đạo- trời đang nắng gắt - bỗng nhiên u ám sầu thảm .
Riêng Miên Thẩm Tùng Thiện Vương cũng bị phạt bổng 8 năm vì tội ...kén rể không sáng suốt chọn lọc !
Về phía vua Tự Đức , chắc cũng đau đớn vô cùng .Mang tiếng giết anh ( Hồng Bảo ), giết cháu ( Ưng Đạo ) để bảo vệ ngai vàng . Tai tiếng này bao giờ gột cho được? Phải làm một việc gì đó để lương tâm bớt cắn rứt : Đổi tên Vạn Niên Cơ ( kêu quá ) thành " Khiêm Lăng " (khiêm tốn ).
Trong bài ký xây lăng năm 1867 , Vua Tự Đức đã viết : " Trời trách , người oán ,lóng Ta lẽ nào lại dám chẳng khiêm ?....Có lẽ , từ ý thức đó mà tất cả các công trình lớn , nhỏ . trong , ngoài của Khiêm Lăng đều được đặt những cái tên rất đẹp có chữ " Khiêm ":
- Tên các gò , đồi giả sơn : Dẫn Khiêm , Đạo Khiêm , Long Khiêm.
-Tên các lạch nước : Tiểu Khiêm , Lưu Khiêm ...
-Tên các đình nhỏ trên hồ : Nhã Khiêm , Lạc Khiêm ...
-Tên các ngôi nhà : Công Khiêm , Lệ Khiêm ...
Quần thể Khiêm Lăng có vẻ khiêm tốn , khiêm nhường như vậy nhưng xem ra mức độ bề thế của tổng công trình này gấp chừng ... 10 lần lăng Gia Long !
Mất ngày 19 /6 /1883 . Vua Tự Đức ngự trên ngai vàng ròng rã 36 năm - một thời gian ' Khiêm tốn " nhất trong các vị VUA triều NGUYỄN.


Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Hai 11 03, 2008 2:39 am    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này



"TỨ NGUYỆT , TAM VƯƠNG TRIỆU BẤT TƯỜNG ".

DỤC ĐỨC , HIỆP HÒA , KIẾN PHÚC . ( tháng 7 /1883 - tháng 11/ 1883 ).

Có lẽ đây là điều hiếm có trong lịch sử Thế Giới .Chỉ có 4 tháng mà 3 vị Vua liên tiếp lên ngôi . Phải chăng đó là triệu chứng xấu ?
Đây là một trong những giai đoạn u ám nhất của lịch sử triều Nguyễn .

DỤC ĐỨC ( 3 ngày / 1883 ): VÌ BỚT DI CHIẾU .
Trước khi băng hà - Vua Tự Đức đã gọi 3 ông Phụ Chính Đại thần : Trần Tiễn Thành , Nguyễn văn Tường và Tôn Thất Thuyết vào Di chiếu .
Trong Dichiếu có đoạn viết :...." Trẫm đã nuôi sẵn 3 con - Ưng Chân lớn tuổi nhất ,đã học hành từ lâu , đã đến tuổi trưởng thành , tuy nhiên , mắt hơi có tật dù xưa nay vẫn dấu kín , sợ sau nầy không còn thấy sáng , tánh lại hiếu dâm và tâm tính rất xấu , không chắc đương nởi việc lớn .Nhưng đất nước cần có Vua lớn tuổi .Trong thời thế khó khăn nầy , không dùng Ưng Chân thì dùng ai ? Cho nên Trẫm chọn Ưng Chân ( Thụy Quốc Công ) nối nghiệp dòng chính và nối ngôi Vua ".
Trần Tiễn Thành dâng sớ xin vua bỏ đoạn nhận xét về tính xấu , tật xấu của Ưng Chân để đảm bảo uy tín cho Tân quân .Nhưng vua Tự Đức không chịu , cho rằng : "phải nhắc nhở ' như thế cho Ưng Chân răn mình .
Hai ngày sau , Vua Tự Đức mất . Ưng Chân tiếp chiếu lên ngôi hiệu là Dục Đức - bàn với 3 vị Phụ Chính Đại thần rằng : trong lễ Đăng quang - bỏ đoạn ấy đi không đọc . Cả 3 vị đồng ý .
Nhưng - bất ngờ thay ! Trong Đại lễ , Trần Tiễn Thành xổ giọng trầm khi ngang đoạn ấy thì Nguyễn văn Tường và Tôn Thất Thuyết không chịu , bắt Nguyễn Trọng Hợp đọc lại đầy đủ rồi truyền đánh trống bãi Triều .
Hai ngày sau , Nguyễn văn Tường dâng sớ lên Hoàng Thái Hậu đòi truất phế Dục Đức vì 4 tội :
- Cắt một đoạn trong Di chiếu.
-Đưa một Giáo sĩ vào làm việc cho mình .
-Đang có tang Cha mà mặc áo màu .
-Gian dâm với Cung nữ của Tiên đế .
Thế là mới lên ngôi được 3 ngày , vua Dục Đức phải vào ngục tối .
Cuộc sống bị tù của Dục Đức quá bi thảm , ăn uống quá kém , thiếu nước , thiếu cơm .Ví vậy , chỉ một tháng sau là tàn tạ , thoi thóp .Dục Đức chết trong đói khổ , thảm khốc !
Tệ hại hơn là - xác Dục Đức chỉ được bó trong một chiếc chiếu để mang đi chôn . Đoàn đưa đám chỉ có hai tên lính gánh và một viên suất đội dẫn đi trong đêm khuya đầy mưa gió , vùi trên một ngọn đồi .Ba ngày sau , vợ con Dục Đức mới biết tin , làm lễ tang .
Sáu năm sau , ( 1889 ) -con của Dục Đức là Bửu Lân được làm Vua - hiệu Thành Thái - mới khôi phục danh hiệu cho Cha là " Cung Tôn Huệ Hoàng Đế " và xây dựng lăng , nhà thờ cho Dục Đức .
Hiện nay , lăng và nhà thờ còn ở vùng An Cựu .


Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Hai 11 03, 2008 4:59 am    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này


HIỆP HÒA ( 4 tháng 10 ngày -1883 )- BỨC MẬT SỚ .

Lãng quốc Công Hồng Dật - em ruột vua Tự Đức , con thứ 29 của vua Thiệu Trị - đang sống yên ổn , xa tránh Hoàng thành ở phủ riêng tại Kim Long , bỗng bị ông Nguyễn văn Tường , Tôn Thất Thuyết ' bắt làm vua '.
Sau khi truất phế và bỏ tù Dục Đức , hai ông Tường và Thuyết đề nghị Đức Từ Dũ chọn Lãng Quốc Công lên ngôi .Dù cố gắng từ chối nhưng cuối cùng Lãng Quốc Công Hồng Dật phải " chịu " làm vua vì áp lực .
Hai ngày sau khi về Cấm Thành -các quan đã làm lễ tấn tôn cho Hồng Dật tại điện Thái Hòa - hiệu là Hiệp Hòa .
Từ khi lên ngôi Vua ( 36 tuổi ) Hiệp Hòa đã có ý thức phản kháng , chống đối hai vị Phụ Chính Đại thần Nguyễn văn tường và Tôn Thất Thuyết. Nhà vua tìm mọi cơ hội để tước đoạt sự lộng quyền của hai ông nầy , và cần thiết thì loại bỏ . Giúp đỡ ý đồ của nhà vua là hai cận thần rất đáng tin cậy , người Hoàng Tộc -: Hồng Sâm ( con trai Tuy Lý Vương ) , Hồng Phi ( con trai Tùng Thiện vương ).Thái độ thân thiện của vua Hiệp Hòa đối với Pháp cùng với mối quan hệ mật thiết của nhà vua và hai Hoàng thân đã làm cho tôn Thất Thuyết đề phòng , cảnh giác .
Sau 4 tháng lên ngôi , một hôm vua Hiệp Hòa nhận được một tờ mật sớ của Hồng Sâm và Hồng Phi xin giết hai quyền thần Tường và Thuyết .Đọc tờ sớ xong , Hiệp Hòa phê : " Giao cho Trần Tiễn Thành " và giao cho viên Thái Giám Trần Đạt mang đến nhà Đại thần Thành ở chợ Dinh .Trên đường đi , chẳng may ,tên Thái Giám lại gặp Nguyễn văn Tường đang đi vào cung .Thấy viên Thái giám hấp tấp , bộ điệu rất khả nghi , Nguyễn văn Tường tra hỏi và giật lấy cái tráp đựng sớ mở ra xem , Tường tái mặt , sai bắt tên Thái giám rồi lên xe đi tìm Tôn Thất Thuyết ngay .
Đọc xong tờ sớ , Thuyết hét ra lửa :" Kéo quân đi giết hết bọn chúng ". Tường khéo léo , ôn tồn xoa dịu . Sau đó hai người bàn kế hoạch chống trả .Họ cho mời các quan Đại thần đến họp khẩn ở dường Bộ Binh ( chỗ Tôn Thất Thuyết đang ở ). nguyễn văn Tường đọc tờ mật sớ và vạch rõ âm mưu giết hai Đại thần Phụ chính của Vua Hiệp Hòa và Hồng Sâm , Hồng Phi, Trần Tiễn Thành .Cuối cùng , theo đề nghị của Thuyết , tất cả các vị Đại thần đều ký tên vào tờ sớ dâng Hoàng Thái Hậu Từ Dũ - xin phế bỏ vua Hiệp Hòa - lập người khác lên làm Vua .Đồng thời hai ông : Tường và Thuyết sai Ông Ích Khiêm và Trương Đăng Đệ , ngay hôm đó , dẫn 50 cận vệ vào điện Càn Thành , bắt vua Hiệp Hòa phải tự xủ " Tam ban triều điển " ( thuốc độc , thanh gươm , dải lụa - 3 món để tự tử ).
Vua Hiệp Hòa đang ngủ , bỗng bị đánh thức dậy , ngơ ngác không biết xảy ra việc gì , vội cuốn mình trong chăn hãi sợ .Ông Ích Khiêm và Trương Đăng Đệ nói rõ lý do và yêu cầu nhà vua tự xử .Hiệp Hòa kêu oan , không nhận tội . Ông Ích Khiêm đành ra lệnh cho lính : " Đức Ông không tự xử , bọn mầy cứ việc làm tròn phận sự ".Bọn cận vệ xông vào , kẻ giữ tay , người giữ chân , bóp miệng , cạy răng ....đổ thuốc độc vào miệng , vào tai ....Một lúc sau - vua Hiệp Hòa quằn quại , le lưỡi mà chết ..
Có người còn kể rằng : Trong khi vua Hiệp Hòa còn vật vã , chưa chết thì Đề Đốc Trần Xuân Soạn mang mật lệnh của Tôn Thất Thuyết bảo phải thanh toán nhanh , kẻo Pháp sang kịp giải cứu . Việc cấp bách , nhà vua bị Ông Ích Khiêm dùng một thanh gỗ đập chết .
Đêm hôm ấy là 29 / 11 /1883 ,Hiệp Hòa thọ 36 tuổi , chỉ làm vua được 4 tháng 10 ngày .


Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Hai 11 03, 2008 7:18 am    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

KIẾN PHÚC ( 1 /12 /1883 đến tháng 7 /1884 )- TRẢ GIÁ CHO MỘT CÂU NÓI .

Giết xong Hiệp Hòa , hai quan Phụ Chính Đại thần Tường và Thuyết cho tìm rước người con nuôi út của vua Tự Đức là Ưng Đăng ( con ruột của Kiên Thái Vương ) tại Khiêm Lăng ( lăng Tự Đức ) về lên ngôi Vua .

Ưng Đăng là Hoàng Tử được vua Tự Đức yêu mến nhất trong ba người con nuôi .Sau đám tang Vua Cha , ưng Đăng được đưa về ở Khiêm Lăng để sớm hôm hương khói gần gủi .Hoàng Tử rất có nhân cách , đạo đức .Buổi họp của Đình thần kết tội vua Hiệp Hòa xong lúc 2 giờ sáng . Dù đang mưa gió não nề , hai vị Đại thần Phụ chính vẫn sai quan Hậu quân Nguyễn Hanh cấp tốc lên Khiêm Lăng rước Ưng Đăng về .

Hoàng Tử mới 13 tuổi , khóc thét từ chối .Mặc dù khá cương quyết nhưng Ưng Đăng vẫn bị ép lên kiệu đưa về Hoàng Thành lúc tờ mờ sáng và mưa gió tơi bời .

Ngày 1 /12 /1883 , Ưng Đăng - Dưỡng Thiện lên ngôi với niên hiệu là Kiến Phúc .

Thuở trước , khi Ưng Đăng làm con nuôi Vua Tự Đức , nhà vua đã giao Hoàng tử cho bà Học Phi nuôi nấng ,dạy học. Vì vậy , bây giờ bà Học Phi trở nên có thế lực khi Ưng Đăng lên làm Vua .Đại thần Nguyễn văn Tường nhận thấy điều đó nên tỏ ra thân thiện chiếm cảm tình của bà . Một dịp may cho ông Tường - Vua Kiến Phúc bị bệnh đậu mùa , bà Học Phi ngày đêm túc trực bên " Vua con " để chăm sóc .Quan Tường không bỏ lỡ cơ hội tốt , hàng ngày , sáng tối đều vào chầu vua , vấn an - có khi đến tối mới về . Dần dần " Đầu ngoài sân sau lần vô bếp " , quan Phụ chính đã bén tình với bà Phi , đôi lần tỏ ra lơi lả , bỡn cợt ....

Dù còn bé bỏng , nhưng vua Kiến Phúc đã tỏ ra khó chịu , bực bội trước cử chỉ , thái độ " ong bướm " của hai người . Một hôm , Kiến Phúc giả vờ ngủ say ,để mặc cho quan Phụ chính và Hoàng mẫu thì thầm , to nhỏ , nhưng cuối cùng cũng không nén được , Nhà vua kêu lớn : " Lành bệnh rồi , ta sẽ chặt đầu cả ba họ nhà mi ".

Quan Tường bẻn lẻn rút lui xuống Thái Y Viện .Ngay đêm đó - sau khi uống chén thuốc xong , vua Kiến Phúc ngủ luôn giấc ngủ nghìn năm ....
Lời nói chứa đựng sự phẩn nộ của vua Kiến Phúc bỗng trở nên thành " vô phúc "! Hưởng dương được 14 tuổi .

Quan Phụ chính Nguyễn văn Tường đã thông báo trong buổi thiết triều bất thường ngày hôm sau : "Vua Kiến Phúc đã băng hà - vì bệnh biến chuyển đột ngột và đề nghị :" Đưa em ruột của Kiến Phúc là Ưng Lịch lên ngôi '.

Ai cũng biết thủ đoạn đánh thuốc độc giết vua Kiến Phúc , nhưng uy quyền của quan Đại thần Phụ chính quá lớn nên chẳng ai dám hé môi . Chỉ sau này , tác giả bài vè " Thất thủ kinh đô " mới dám tường thuật lại :

" Đại thần Phụ chánh hai ngài .
Riêng phần quan Quận kiêm vai ngự điều .
Bất phân sớm tối , mai chiều .
Để khi khẩn cấp xét liều thuốc thang .
Vào ra trong chốn điện vàng .
Rất là tương đắc với nàng Học Phi
Một hôm trong chốn cung vi
Quan Quận cùng với Học Phi chuyện trò
Trao lời lúc nhỏ , lúc to
Không màng tai vách , không lo mạch rừng
Tưởng rằng kín mít như bưng
Nào hay có kẻ ngó chừng một bên
Một lúc ngài NGỰ quở lên
" Ai như thầy Quận ở bên kia phòng "
Quan Quận nghe quở chột lòng
Thế rồi tâm niệm bất trung âm thầm
Hàng ngày đã có tiền tâm
Lòng người hiểm ác , thâm trầm ai hay
Đức Vua án giá ngày nay
Họ nghi quan Quận cơ rày liên quan ...

( Quan Quận : chỉ Nguyễn văn Tường )
(Ngài NGỰ : chỉ vua Kiến Phúc )


Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Năm 11 06, 2008 3:38 am    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

*HÀM NGHI (1884 - 1885).

Vua Kiến Phúc ở ngai vàng được 7 tháng thì mất. (12/1883 - 7/1884). Đúng theo quy ước thì Hoàng tử Chánh Mông - con nuôi thứ hai của Tự Đức sẽ nối ngôi, nhưng ông Nguyễn văn Tường và Tôn Thất Thuyết tự ý chọn lựa ông Hoàng còn thiếu niên là Ưng Lịch lên làm vua, mới 13 tuổi - niên hiệu Hàm Nghi. Lễ đăng quang được tổ chức ngày 1/8/1884.

NHỮNG THÁNG NGÀY GIAN KHỔ :

Gần hai tháng trước khi Hàm Nghi đăng quang, một hòa ước giữa Nam triều và Chính phủ Pháp đã được ký kết - Hòa ước Giáp Thân (6/6/1884) - công nhận quyền bảo hộ của Pháp đối với nước Nam.

Quân, tướng Pháp đã kéo nhau vào đóng ở đồn Mang Cá để dễ bề gây áp lực với Triều đình.

Đại thần Phụ chính Tôn Thất Thuyết thấy Nam triều chưa đủ sức kháng cự nên đành chấp thuận nhiều yêu sách của Pháp. Mặt khác, bí mật cũng cố lực lượng, vũ khí để chuẩn bị đối phó.

Ngày 1/7/1885, tên Đại tướng Toàn quyền Đờ Cuốc xi từ Hải Phòng vào Huế để gây hấn. Trước tình hình không thể nhân nhượng được nữa, đêm 4/7/1885 (đêm 22 sáng 23/5 Ất Dậu) Tôn Thất Thuyết ra lệnh cho quân Nam triều tấn công bất ngờ vào đồn Mang Cá, Tòa Khâm Sứ Pháp ...

Tuy tinh thần hăng hái nhưng vũ khí quá thô sơ nên cuộc tấn công bị thất bại. Kinh thành Huế bị thất thủ. Tôn Thất Thuyết ra lệnh tập hợp tường sĩ mời Hoàng Thái Hậu, Vua Hàm Nghi lên kiệu bôn tẩu ...

Vua Hàm Nghi có vẻ không hiểu gì cả, sửng sốt nói : "Ta có đánh nhau với ai đâu mà phải chạy ?".

Tôn Thất Thuyết liền rút gươm ra, khiến quân lính vực Vua lên kiệu - qua cửa Hữu - ra khỏi Hoàng thành đi về phía Kim Long.

Thế là lên làm Vua chưa đầy một năm - Vua Hàm Nghi đã cùng Hoàng tộc, Đình thần lao vào cuộc chạy giặc vô cùng gian khổ ... Đạo ngự bôn tẩu có trên 1.000 người - gồm các Ông Hoàng, Bà Chúa - già, trẻ - các Đại thần và đại gia đình của họ .... Tất cả rời khỏi chốn quyền quý, vinh hoa để lên rừng tránh giặc truy kích. Hơn hai ngày sau, đạo ngự mới ra đến Quảng Trị. Tất cả tạm nghĩ ngơi. Đại thần Nguyễn Văn Tường đã bỏ trốn, trở lại Huế - đầu hàng Pháp.

Theo lệnh Hoàng Thái Hậu Từ Dũ, chiều ngày 8/7/1885, tất cả các quan Văn, Võ, Đại thần tập họp để bàn định việc "kháng chiến". Ý của bà Từ Dũ và các bà Chúa, một số Đình thần là muốn trở về. Tôn Thất Thuyết tức đỏ mặt. Hoàng Thái Hậu nói :"những người tuổi già sức yếu thì đánh Pháp sao được. Đem họ theo chỉ vướng chân thôi".

Tôn Thất Thuyết suy nghĩ, rồi đồng ý, chia đạo ngự thành hai đoàn :

- Ai già yếu, thiếu ý chí chiến đấu thì theo Hoàng Thái Hậu trở về Kinh thành.

- Ai muốn giữ chử "Trung" với Vua, với Nước thì lên Tân Sở. Ba ngày sau, giữa cảnh núi rừng thưa thớt, cây cối khô cằn, Nhà Vua đăm chiêu, buồn rầu và đòi về Huế. Tôn Thất Thuyết nghiêm mặt nói :

- Bệ Hạ muốn về Huế cũng được - nhưng phải .....xin Ngài để lại cái đầu ở đây !

Từ đó - Vua Hàm Nghi mới 13 tuổi - đã biết suy nghĩ, trở nên bình tĩnh. Khi Tôn Thất Thuyết xin Vua phê chuẩn tờ chiếu kể tội Pháp và kêu gọi nhân dân nổi dậy chống Pháp - Hịch Cần Vương - Nhà vua đọc và phê chuẩn, rồi nói :

- Bây giờ Trẫm mới hiểu vì sao Khanh không muốn cho Trẫm về Huế khi còn giặc Pháp chiếm đóng.

- Vậy, nếu đòi hỏi đi vào sống trong rừng sâu để kháng chiến - Ngài có đi không ?

- Đi đâu cũng được, sống thế nào cũng được, miễn là đuổi được giặc Pháp ra khỏi đất nước.

Thế là hôm sau - Tôn Thất Thuyết phò Vua rời Tân Sở ngược Mai Lĩnh, vượt đèo Quy Hợp sang địa phận Hà Tĩnh để về Ấn Sơn - nơi mà Tôn Thất Thuyết dự định đặt Đại bản doanh kháng chiến.

Đêm 4/7/1885 rời Kinh thành có 1.000 người, khi rời hành cung Quảng Trị còn 5.00 người. Nay đến Đại bản doanh chỉ còn 200 người - (300 người đã nằm lại ở dọc đường kháng chiến).

Vua Hàm Nghi cũng đang lên cơn sốt nhưng cũng suy gẫm về cuộc chiến đấu ác liệt sắp đến. Một cuộc chiến đầy gian lao, thử thách mà Ngài bắt đầu mường tượng cảm nhận từ khi đặt bút phê chuẩn Hịch Cần Vương - lúc Ngài vừa 14 tuổi.


Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Năm 11 06, 2008 6:17 am    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

*CUỘC CHIẾN ĐẤU KHÔNG CÂN SỨC :

Hịch Cần Vương được ban ra , nhiều nơi đã hưởng ứng .Ý thức " trung quân ái quốc " cộng với lòng căm ghét giặc Pháp. Ở hà tĩnh - Lê Ninh và Ấm Võ đã lãnh đạo thân hào nhân sĩ và nhân dân chiếm tỉnh thành , bắt bọn Việt gian Trịnh văn Báu , Lê Đạt chống lại phong trào Cần Vương . Trương Quang Ngọc lãnh đạo một đội quân Mường đến đầu quân khởi nghĩa , được Tôn Thất Thuyết phong cho chức Hiệp quân hộ giá nhà Vua . Phong trào Cần Vương đã lan rộng từ Trung kỳ đến Bắc kỳ .

Triều đình Huế dưới sự chỉ đạo của Pháp đã cử Hoàng Kế Viêm ra Quảng bing2 dụ vua Hàm Nghi và các quan cựu thần về hàng . Tuy nhiên ,Đồng Khánh đã gặp thất bại .Pháp đã xoay quanh kế hoạch , chủ trương dùng vũ lực để bắt Hàm Nghi , tiêu diệt lực lượng Cần Vương .

Pháp đã sử dụng mạng lưới gián điệp để dò tìm căn cứ địa của vua Hàm Nghi .Khi xác định được phạm vi hoạt động của Bộ chỉ huy kháng chiến ở mấy khu rừng tiếp giáp tỉnh Hà Tĩnh - Quảng Bình và Khăm Muộn ( Lào ), Pháp bắt đầu bủa vây , xây dựng đồn bốt để chuẩn bị tấn công . Chúng mở những trận càn quét - nhưng không thu được kết quả gì đáng kể .

Lực lượng bảo vệ Vua Hàm Nghi và Bộ chỉ huy cũng khá " dày " và chặt chẽ .Đề đốc Lê Trực cho quân đóng ở huyện Tuyên Chánh , quân của Tôn Thất Đạm đóng ở rừng Nghệ Tĩnh .Riêng Tôn Thất Thuyết , Nguyễn Phạm Tuân thìphò Vua Hàm Nghi ở mạn huyện Tuyên Hóa . Tôn Thất Thiệp ( con Tôn Thất Thuyết ) canh gác giữ gìn , bảo vệ Vua Hàm Nghi cẩn mật . Thiệp tuyên bố sẽ hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ Vua , ai nói đầu hàng sẽ bị chém ngay .

Cuối cùng , bọn Pháp phải mượn tay Trương Quang Ngọc để bắt Vua Hàm Nghi .Ngọc dù đầu quân Cần Vương ,được cho theo phò giá , lập nhiều chiến công , nhưng tâm địa phản trắc .Ngọc đã bị tên đồn trưởng Pháp là Muốn mua chuộc , đang tìm cách để bắt sống Hàm Nghi dâng nạp cho Pháp .

Đêm 26 /9 /1888 , Ngọc dẫn hơn 100 tên cận vệ người Mường bao vây cái lều tranh cuối cùng của Vua Hàm Nghi trên bờ khe Tá Bào .Nghe động bên ngoài , cha con quan Thống chế Nguyễn Thúy nhày ra - liền bị Ngọc đâm chết . Tôn Thất Thiệp ,con út của tôn Thất Thuyết cầm gươm nhảy ra cũng bị tên lính Mường phóng ngọn giáo trúng ngực chết luôn .Vua Hàm Nghi cầm gươm bước ra chỉ mặt kẻ phản bội và bảo rằng :

-Mi giết ta đi còn hơn là mang ta nộp cho Tây .

Trương Quang Ngọc lúng túng thì một tên lính Mường đã nhảy vào ôm ngang lưng Vua Hàm Nghi, giật lấy gươm , vác Vua bỏ vào võng , khiêng xuống thuyền , chở về đồn Thuận bài đóng ở Sông Gianh .

Thế là sau ba năm kháng chiến chống Pháp , Vua Hàm Nghi từ một thiếu niên , bây giờ đã từng trải , lớn khôn thành một thanh niên 17 tuổi .Tiếc thay - sự nghiệp Cần Vương phải chấm dứt vì kẻ phản bội Tổ Quốc - Nhân dân.

Khi Vua Hàm Nghi bước từ dưới thuyền lên , tên Thiếu tá Pháp cho cử Quân nhạc và chúc mừng -Vua Hàm Nghi nói :" Tôi không dám nhận lời chúc , tôi chỉ là bầy tôi của Vua Hàm Nghi hiện ở trong rừng ".

Viên Thiếu tá phân vân , nghi ngờ. Bỗng đâu có các quan lại địa phương đến thăm , khi nghe tin Nhà Vua ở Thuận Bài .Trong số đó có ông Nguyễn Thuận là thầy học cũ của Vua Hàm Nghi , thấy Thầy học , Vua vái chào .Nhờ thế bọn Pháp mới chắc chắn đã bắt được ông Vua bé nhỏ mà lại to gan chống Pháp .

Từ Thuận Bài - nhà Vua được đưa về Thuận An. Tại đây , Khâm sứ Rheinart và các quan Cơ mật đại thần đến chào , Vua Hàm Nghi cáo bệnh , không tiếp . Rheinart cho biết Hoàng Thái Hậu đang ốm , nếu Vua Hàm Nghi cần gặp thì ông ta sẵn lòng . Vua Hàm Nghi nói :

" Thân tôi đã tù , nước đã mất , còn dám nghĩ gì đến Cha Mẹ , anh em , chị em nữa ...."Nói xong Nhà Vua bỏ đi vào phòng riêng .

Ngày 13 /1 /1889 , Nhà Vua bị đưa bằng tàu La Comett vào Sài Gòn rồi sang Thành Phố Alger , thủ đô nước Algerie - một thuộc địa của Pháp -Sống an trí tại biệt thự ở làng Albiar , ngoại ô thành phố , với một người Việt Nam phục vụ .

Sau một năm tại đây , Nhà Vua đã bắt đầu học tiếng Pháp , tìm hiểu nền văn Chương Pháp , Mỹ thuật Pháp .Hàng năm , Nam triều trợ cấp cho Nhà Vua 25 .000 quan để sinh sống , và cứ ba năm lại thay người phục vụ một lần .

Thời gian nặng nề trôi đi , Nhà Vua bắt đầu khuây khỏa chút ít nỗi đau xót của một người dân mất nước , thân phận đi đày - bằng hội họa , âm nhạc và một mái ấm gia đình nho nhỏ , một người vợ với ba đứa con ( hai gái một trai ). Tuy nhiên , Ông Hoàng An Nam (Le prince d Annam )theo cách gọi thân thương của dân địa phương - vẫn luôn luôn búi tóc , mặc quần áo VN trong suốt cả cuộc đời tha hương của mình .

Một chi tiết đáng chú ý : Vua Hàm Nghi có biết ít nhiều về Nguyễn Ái Quốc và trong tủ sách của mình có cuốn " Bản án chế độ thực dân Pháp " , kịch " Con rồng tre " .(? ).

Năm 1949 , Vua Hàm Nghi mất tại Algerie , thọ 64 tuổi , số tuổi cao nhất trong các Vị Vua Triều Nguyễn - để lại hình ảnh đẹp - của một ông Vua khí khái , tuổi trẻ phải chịu lưu đày vì Yêu nước , thương dân .


Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Bảy 11 08, 2008 3:49 am    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

* ĐỒNG KHÁNH ( 1885 - 1888 ).

Sau khi thất bại trong việc cử Hoàng Kế Viêm ra Quảng Bình chiêu dụ Vua Hàm Nghi về hàng , Chánh phủ Pháp đã truất phế Vua Hàm Nghi và thỏa thuận với Tam Cung đưa Hoàng tử Chánh Mông Ưng Đường ( con ruột của Kiên Thái Vương ) - con nuôi thứ hai của Vua Tự Đức lên ngôi , lấy niên hiệu là Đồng Khánh .
Sự éo le của Lịch sử - hình như được lặp lại - nếu trước đây , Vua Quang Trung và Vua Gia Long vốn không đội trời chung đã trở thành " anh em cột chèo " .( hai bà ; Lê Ngọc Hân và Lê Ngọc Bình - là hai chị em ruột ).Thì bây giờ , Vua đồng Khánh và Vua Hàm Nghi là hai anh em ruột lại trở thành thù địch của nhau . Một điều đặc biệt hơn nữa là - Lê Ngọc Bình có hai chồng đều làm Vua ( Quang Toản và Gia Long ) thì gia đình Kiên Thái Vương lại có ba anh em ruột lần lượt làm vua : Kiến Phúc ( Ưng Đăng ), Hàm Nghi ( Ưng Lịch ) , Đồng Khánh ( Ưng Đường ) .Vì vậy - dân gian lại có câu ca :
" Một nhà sinh được ba Vua .
Vua sống , vua chết , vua thua chạy dài ".
Vua sống là vua Đồng Khánh ( ở ngôi được ba năm ) , vua chết là vua Kiến Phúc ( ở ngôi được 7 tháng ), vua thua chạy dài là vua Hàm Nghi ( ở ngôi được 1 năm rồi bị phế vì tổ chức Cần vương chống Pháp ).
Đồng Khánh có nghĩa là : " Đồng " là Chung , " Khánh " là niềm vui mừng .Đồng Khánh lên ngôi là niềm hài hòa của Triều đình Huế va Chính phủ Pháp ! Thật ra - không hẳn như vậy .
Đáng lẽ ,Đồng Khánh ( Hoàng tử Chánh Mông ) lên ngôi sau khi Dục Đức và Hiệp Hòa bị phế và bị giết .Nhưng vì do hai vị Phụ chính Đại thần lúc đó là : Nguyễn văn Tường và Tôn Thất Thuyết không bằng lòng , vả lại Chánh Mông ( Ưng Đường ) lớn tuổi , khó bảo - nên chọn người em là Ưng Đăng ( Kiến Phúc ) mới 13 tuổi lên ngôi .Kiến Phúc mất , lại cho Ưng Lịch ( không phải con nuôi Vua Tự Đức ) mới 14 tuổi lên thay . Cuối cùng , truất phế Hàm Nghi , ngai vàng đang bỏ trống , đành phải chọn Chánh Mông - Ưng Đường đã 22 tuổi lên nối ngôi .
Trước khi chọn Chánh Mông , triều đình Huế và Chính phủ Pháp cũng đã thỏa thuận khá kỹ .Bà Từ Dũ Hoàng thái hậu ( mẹ Vua Tự Đức ) và một số Hoàng thân Phụ chánh Đại thần Nguyễn Hữu Độ , chọn Chánh Mông - có lý do riêng - bởi Chánh Mông là con rể của Nguyễn Hữu Độ.Còn Phụ chánh Đại thần Phan Đình Bình và một số người khác chọn Hoàng tử Bửu Lân ( con của vua Dục Đức , cháu ngoại của Phan Đình Bình ). Vì vậy , khi lên ngôi Vua - Đồng Khánh đã nuôi một mối thâm thù với họ Phan - dẫn đến cái chết bi thảm của Phan đình Bình sau nầy .,


Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng » Văn Hoá - Khoa Học & Kỹ Thuật Thời gian được tính theo giờ EST (U.S./Canada)
Chuyển đến trang 1, 2  Trang kế
Trang 1 trong tổng số 2 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Powered by SaoMaiDaNang © Nho'm SaoMai DaNang
Designed for SaoMaiDanang - Nam cuoi cung cua truong SAO MAI